Việc phát triển bền vững môi trường dựa trên nguyên tắc bình đẳng, nâng cao chất lượng cuộc sống và khả năng chống chịu của người dân đối với biến đổi khí hậu. Đây là điều kiện để đảm bảo cơ hội phát huy năng lực cũng như thụ hưởng thành quả của sự phát triển, không để ai bị bỏ lại trong quá trình chuyển đổi xanh.

Bảo vệ môi trường có mối quan hệ chặt chẽ đến phát triển bền vững

Phát triển bền vững chính là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của con người mà không gây tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai. Và “để thực hiện phát triển bền vững, bảo vệ môi trường nhất thiết là một bộ phận cấu thành của quá trình và không thể tách rời quá trình đó” (Theo Ủy ban Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc). 

Chính vì lẽ đó, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững có mối quan hệ biện chứng và mật thiết với nhau. Trong đó, để phát triển bền vững tất yếu phải bảo vệ môi trường và ngược lại, bảo vệ môi trường phải vì mục tiêu phát triển bền vững.

Chiến lược thịnh vượng về kinh tế và bền vững về môi trường

Chiến lược tăng trưởng xanh của quốc gia giai đoạn 2021 – 2030 và tầm nhìn 2050 vừa được Chính phủ phê duyệt, khẳng định rất rõ ràng: Tăng trưởng xanh đã góp phần thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, để đạt được thịnh vượng về kinh tế, bền vững về môi trường và mục tiêu công bằng về xã hội; hướng tới nền kinh tế xanh, trung hòa lượng carbon và đóng góp vào mục tiêu hạn chế sự gia tăng nhiệt độ trên toàn cầu.

17 mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030
Danh sách 17 mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030. Nguồn: Wikipedia.

Trong 17 mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam đến năm 2030 có tới 4 mục tiêu trực tiếp về bảo vệ môi trường. Ngoài ra, Luật Bảo vệ môi trường 2020 nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường chính là điều kiện, nền tảng, yếu tố trung tâm và tiên quyết cho phát triển kinh tế – xã hội bền vững” (khoản 2 Điều 4). Đồng thời giải thích: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đến môi trường; ứng phó với các sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, tình trạng suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường; sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu” (khoản 2 Điều 3). 

Từ đó có thể thấy, bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ giai đoạn rất sớm. Bên cạnh đó luôn được xác định trong công cuộc phát triển đất nước.

Tình hình phát triển bền vững môi trường ở Việt Nam

Chiến lược tăng trưởng xanh của quốc gia giai đoạn 2021 – 2030 và tầm nhìn 2050 đặt ra 3 mục tiêu quan trọng là: Giảm phát thải, xanh hóa ngành kinh tế và xanh hóa trong lối sống, thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

Mục tiêu giảm phát thải ít nhất 30%

Mục tiêu lâu dài trong chiến lược tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu chính là giảm cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP. Theo đó, chiến lược đặt ra mốc đến 2030, cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP phải giảm ít nhất 15% so với 2014. Thời gian xa hơn, vào 2050, cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP phải giảm ít nhất 30% so với 2014.

Mục tiêu xanh hóa ngành kinh tế

Để thực hiện xanh hóa các ngành kinh tế phải hướng đến việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh hóa các ngành kinh tế. Doanh nghiệp áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn thông qua việc khai thác và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và năng lượng.

Tất cả dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ, ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi số. Đồng thời, phát triển kết cấu hạ tầng bền vững để có thể nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát huy lợi thế cạnh tranh và giảm thiểu được những tác động tiêu cực đến môi trường.

Mục tiêu đến năm 2030 là tiêu hao năng lượng sơ cấp trên GDP bình quân của giai đoạn 2021 – 2030 giảm từ 1,0 – 1,5%/năm; tỷ trọng của năng lượng tái tạo trên tổng cung cấp năng lượng sơ cấp ít nhất đạt 15 – 20%; kinh tế số phải đạt 30% GDP; tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở 42%; và ít nhất 30% tổng diện tích cây trồng cạn có tưới được áp dụng phương pháp tưới tiên tiến cũng như tiết kiệm nước.

Mục tiêu đến năm 2050 sẽ giảm 1,0%/năm tiêu hao năng lượng sơ cấp trên GDP bình quân mỗi giai đoạn (10 năm); tỷ trọng năng lượng tái tạo trên tổng cung cấp năng lượng sơ cấp đạt được 25 – 30%; phấn đấu để kinh tế số đạt 50% GDP; tỷ lệ che phủ rừng ổn định đạt ở mức 42 – 43%; và ít nhất 60% tổng diện tích cây trồng cạn có tưới được áp dụng phương pháp tưới tiên tiến cũng như tiết kiệm nước.

Xanh hóa trong lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững

Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững hướng đến việc thay đổi thói quen và hành vi của người dân. Đây là biện pháp có hiệu quả lâu dài.

Việt Nam đặt nhiều mục tiêu phát triển bền vững môi trường đến năm 2030: 

  • Tỷ lệ chất thải rắn của sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn theo quy định đạt mức 95%; 
  • Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được xử lý bằng biện pháp chôn lấp trực tiếp so với lượng chất thải được thu gom sẽ chiếm 10%; 
  • Tỷ lệ nước thải đô thị được thu gom và được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn theo quy định lần lượt đạt trên 50% đối với dạng đô thị loại II trở lên và 20% đối với những loại đô thị còn lại; 
  • Tỷ lệ đảm nhận vận tải hành khách công cộng tại các đô thị đặc biệt, đô thị loại I phải lần lượt đạt ít nhất 20% và 5%; tỷ lệ xe buýt sử dụng nguồn năng lượng sạch tại các đô thị đặc biệt đạt ít nhất 15% với tổng số xe buýt đang hoạt động và tại đô thị loại I sẽ đạt 10% số lượng xe buýt mới; 
  • Tỷ lệ mua sắm công xanh trên tổng mua sắm công đạt ít nhất 35%; ít nhất 10 đô thị phê duyệt và thực hiện đề án tổng thể về phát triển đô thị tăng trưởng xanh theo xu hướng đô thị thông minh bền vững.

Mục tiêu phát triển bền vững môi trường đến 2050:

Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia đạt 100% (trong đó hạn chế tối đa việc chôn lấp chất thải rắn hữu cơ cũng như chất thải có thể tái chế); 

  • 100% các đô thị xây dựng đồng bộ và hoàn thiện hệ thống thoát nước, loại bỏ hẳn tình trạng ngập úng tại các đô thị ; 
  • 100% nước thải được xử lý phải đảm bảo được quy chuẩn kỹ thuật trước khi xả ra nguồn tiếp nhận; 
  • Tỷ lệ đảm nhận của vận tải hành khách công cộng tại các đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I lần lượt đạt ít nhất 40% và 15%;
  • Tỷ lệ xe buýt sử dụng nguồn năng lượng sạch tại các đô thị loại đặc biệt và đô thị loại I lần lượt đạt 100%; 
  • Ít nhất 40% số lượng xe buýt được đầu tư mới; tỷ lệ mua sắm công xanh trên tổng mua sắm công đạt ít nhất 50%; 
  • Ít nhất 45 đô thị phê duyệt và thực hiện đề án tổng thể về phát triển đô thị tăng trưởng xanh theo xu hướng đô thị thông minh bền vững.