Đó là một buổi sáng tháng 7 năm 1992, và bạn đang ở thị trấn Stellenbosch, Nam Phi. Mặt trời đổ bóng trên những hàng nho Chenin Blanc và Colombard. Còn 2 năm nữa người da màu mới được tham gia bầu cử lần đầu tiên ở Nam Phi. Chế độ phân biệt chủng tộc apartheid vẫn hằn sâu trong bộ luật quốc gia và trong những cuộc đánh bom đẫm máu đòi quyền bình đẳng. Các nước phương Tây lần lượt tẩy chay hàng hóa từ Nam Phi, đẩy Nam Phi ra khỏi Khối thịnh vượng chung (Commonwealth) và Thế vận hội Olympic. Chỉ trong một thời gian ngắn nữa thôi, đạo luật bảo vệ doanh thu cho người trồng nho, cũng như quy định bắt buộc gia nhập hệ thống hợp tác xã sẽ kết thúc. Hải quan sẽ mở cửa cho các dòng rượu vang ngoại nhập tràn vào thị trường nội địa chật hẹp. Các hầm rượu vốn đã quen sản xuất rượu trắng chất lượng thấp đứng trước những thị trường nhập khẩu với yêu cầu chất lượng khắt khe. Áp lực đến từ mọi phía. Bạn sẽ làm gì?

Thành công không dễ

Ngành rượu vang Nam Phi đã phát triển đáng kể từ đầu những năm 1990 trong thị trường toàn cầu cực kỳ cạnh tranh. Sản lượng xuất khẩu tăng từ 20 lên đến 177 triệu lít trong khoảng thời gian từ 1992 đến 2002. Cùng thời gian này, sản lượng rượu vang phổ thông (“table wine”, tạm dịch là rượu vang để bàn) tăng 33%. Nam Phi là trường hợp thành công điển hình của một cụm ngành nông nghiệp.

Nhìn trên bề mặt, ở thời điểm hiện tại, ngành rượu vang Nam Phi có cơ quan nghiên cứu Winetech chuyên cung cấp những công nghệ tối tân, có hệ thống nhà tư vấn được tin dùng bởi các hãng rượu vang nổi tiếng, có ban marketing toàn quốc gia mang tên WOSA chuyên xây dựng chiến lược thương hiệu cho toàn Nam Phi để cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, thành công này đến không hề dễ dàng, đặc biệt là ở một đất nước đã bị chia cắt trên nhiều bình diện, từ thể chế, văn hóa đến thị trường.

Rượu vang được sản xuất ở Nam Phi lần đầu tiên bởi Jan van Riebeeck tại một khu định cư thuộc Công ty Đông Ấn Hà Lan. 
Tiêu đề tranh: Jan van Riebeeck đến Table Bay, tháng 4 năm 1652. Suid-Afrikaanse Geskiedenis in Beeld (1989) by Anthony Preston. Bion Books: In tại Nam Phi.

Sửa chính sách sai

Các nhà sản xuất rượu vang Nam Phi có thể được chia thành bốn phân khúc: 

  • nhà sản xuất lâu năm, 
  • nhà sản xuất mới, 
  • hợp tác xã, và 
  • nhà bán buôn (vai trò chính là tiếp thị, bán hàng và phân phối, nhưng cũng sản xuất rượu).

Tại Nam Phi vào những năm 1990, hầu hết đất đai nằm trong tay người da trắng. Lao động người da đen phải sống trong cảnh áp bức, đói nghèo. Luật pháp quốc gia bảo vệ những chủ trang trại người da trắng bằng cách hạn chế số lượng dây nho được trồng, cũng như áp mức giá tiêu chuẩn cho tất cả nước nho. Những nhà bán buôn và các hầm rượu tư nhân phản đối những quy định này, vì họ cho rằng chúng kìm hãm cải tiến trong sản xuất và phân phối, chưa kể còn khuyến khích nhà sản xuất bán rượu kém chất lượng vì giá đã được đảm bảo.

Khi hệ thống hạn ngạch được bãi bỏ vào năm 1992, nhiều nhà sản xuất mới có thể mở rộng diện tích trồng những giống nho mà thị trường thế giới đang ưa chuộng. Cùng với các ưu đãi cho trồng mới và trồng lại, chỉ trong 10 năm, số vườn nho dưới 8 năm tuổi đã chiếm 37% tổng diện tích canh tác nho tại Nam Phi, và chất lượng rượu vang đã tăng lên đáng kể.

Sức ép hợp tác từ thị trường và chính phủ

Tiếp theo đó, các chính sách kinh tế vĩ mô đã được đưa ra hàng loạt, bao gồm tự do hóa thương mại nông nghiệp, cải cách ruộng đất, giảm trợ cấp trực tiếp và đưa ra mức lương tối thiểu cho nông dân. Sự nghi kỵ giữa các bên vẫn còn rất lớn, nhưng do sức ép từ hàng ngoại nhập tràn vào thị trường nội địa chật hẹp, cộng với các ưu đãi từ chính phủ, những nhà sản xuất tại Nam Phi mới bắt tay vào hợp tác.

Một cụm ngành cạnh tranh đòi hỏi sự hợp tác giữa nhiều cấp chính phủ, công ty, tổ chức giảng dạy và nghiên cứu, nhà cung cấp dịch vụ, cơ quan thiết lập tiêu chuẩn và các tổ chức tư nhân được hình thành. Và cần thiết phải có một cơ quan giữ đủ mạnh đứng ra điều phối. Vì các đơn vị tư nhân thường không có đủ động lực và tiềm lực để đứng ra điều phối, nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc thành lập cơ quan này.

Công ty Rượu vang và Rượu Brandy Nam Phi (SAWB) được thành lập với sự tham gia của tất cả các bên liên quan. Chính sách ghi rõ SAWB là một công ty phi lợi nhuận, đại diện cho các nhà sản xuất rượu vang, công nhân và nhà bán buôn, có thẩm quyền quốc gia và có cam kết tăng cường khả năng cạnh tranh trên mọi khía cạnh của ngành rượu vang Nam Phi thông qua sự đổi mới và cải tiến.

SAWB điều hướng tri thức bằng cách tổ chức các nghiên cứu nền tảng trong những lĩnh vực được lựa chọn kỹ càng. SAWB đề ra các tiêu chuẩn và mục tiêu hiệu suất để điều hướng phát triển công nghệ. SAWB tạo ra cơ chế khen thưởng, hỗ trợ, và thực thi nhằm khuyến khích đổi mới theo định hướng thị trường. SAWB cũng thúc đẩy thay đổi trên bình diện chính trị xã hội nhằm đem lại công bằng cho người lao động da đen (Wood và Kaplan 2006).

Liên kết là sức mạnh

Nếu một doanh nghiệp nhỏ nằm trong một cụm ngành, nó sẽ được hỗ trợ phát triển bởi các đơn vị cung cấp dịch vụ và đầu vào của cụm ngành đó. Thay vì phải thực hiện mọi khâu hoặc phụ thuộc vào một đơn vị cung ứng duy nhất, doanh nghiệp có thể phân bổ hoạt động cho các mắt xích của chuỗi giá trị, giúp giảm rủi ro. Doanh nghiệp mới cũng sẽ được công nhận và đạt vị thế nhanh hơn trên thị trường nhờ ở gần các đối thủ cạnh tranh. Toàn cụm cũng có thể tiếp cận các đầu vào rẻ hơn hoặc phục vụ tốt hơn các thị trường cụ thể.

Nhưng trên hết, chỉ khi toàn ngành cùng hợp tác, họ mới có được sức mạnh để xuất khẩu và tiếp thị trên quy mô lớn. Nhận thức rằng một công ty đơn lẻ không thể tiếp thị cho cả quốc gia, SAWB đã chỉ định tổ chức tư nhân Rượu vang Nam Phi (WOSA) thay mặt cho 320 nhà xuất khẩu rượu vang trong nước để quảng bá rượu vang Nam Phi ra quốc tế. 

Winetech và Hội nghị Thượng đỉnh Đổi mới Nam Phi phát động cuộc thi dành cho các công ty khởi nghiệp nông nghiệp công nghệ cao nhằm phát triển các giải pháp cho các vấn đề chính mà các nhà sản xuất rượu vang phải đối mặt. Ảnh: https://awpnetwork.com/

Đào tạo để đổi mới

Dù thị trường xuất khẩu được mở ra, nhưng các yêu cầu về sản lượng lớn, chất lượng cao và sản phẩm đồng nhất vẫn luôn là thách thức với các nhà sản xuất. Thị trường xuất khẩu cũng không tránh khỏi các thất bại thị trường (market failures) và thông tin không hoàn hảo (imperfect information). Chính việc hợp tác và hợp tác tốt hơn giữa các bên đã tạo ra các cải tiến để khắc phục vấn đề.

Cụm rượu vang Nam Phi đã thay đổi cách tiếp thị, quy trình sản xuất rượu vang, cải tiến giống và thực hành bán đấu giá. Các nhà sản xuất lớn còn sử dụng rộng rãi các tư vấn viên nhằm cập nhật xu hướng trong nước và quốc tế để đảm bảo thành công. Năng lực truyền tải và tiếp nhận kiến thức là chìa khóa cho đổi mới.

Đào tạo tại chỗ là hình thức học tập chính ở các cụm ngành cường độ cao. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các cụm ngành nông nghiệp thường không đào tạo đủ. Tại cụm rượu vang Nam Phi, Viện Đào tạo Elsenburg đã được thành lập, bao gồm nhiều vườn nho và một hầm rượu. Nhà nước hỗ trợ các khóa đào tạo của Elsenburg, ký hợp đồng với các chuyên gia rượu, mở chương trình đào tạo thạc sĩ. Elsenburg trở thành trung tâm trao đổi kiến thức của hầu hết các nhà sản xuất, nhộn nhịp hệt như các diễn đàn trồng nho và các hiệp hội giống (Wood và Kaplan 2006).

Cụm ngành rượu còn thành lập Mạng lưới Chuyên môn và Công nghệ Ngành Rượu vang – Winetech. Winetech phục vụ như một hội đồng tư vấn cho các chính sách của SAWB. Winetech vận hành một mạng lưới rộng lớn gồm các tác nhân trong ngành, các nhà khoa học và kỹ sư từ các trường đại học và Hội đồng Nghiên cứu Nông nghiệp – ARC. Nhà nước Nam Phi cũng tài trợ một phần cho ARC để hỗ trợ kỹ thuật cho toàn cụm. 

Cùng nhau hội nhập

Trong thị trường xuất khẩu rượu vang phổ thông (table wine), giá cả luôn bị ép xuống bởi các hệ thống siêu thị lớn, dẫn đến đời sống ngày càng chật vật cho người lao động. Những thay đổi chính trị như cải cách ruộng đất để người dân có quyền sở hữu đất, việc lập ra các liên đoàn lao động để đòi quyền lợi cho người nông dân, đã rơi vào bên lề câu chuyện. Thay vào đó, các doanh nghiệp thường lựa chọn những giải pháp tự nguyện như các chứng chỉ như Fairtrade (Thương mại Công bằng) hoặc các bản cam kết hành động đạo đức như WIETA code.

Các cụm xuất khẩu thường tạo ra mức lương, năng suất và đổi mới trên trung bình. Cụm rượu vang Nam Phi cho thấy những lợi ích đó. Khi kinh tế tăng trưởng, các bên tham gia cần hợp tác và đổi mới mạnh mẽ hơn nữa để thúc đẩy sự thịnh vượng cho toàn xã hội

Nguồn: Ngân hàng Thế giới. (2012). Hệ thống Đổi mới Nông Nghiệp: Một nguồn tài liệu đầu tư. World Bank Publicatión. Thông tin tổng hợp từ Hộp 5.22 Cụm rượu vang Nam Phi.


Các bài viết khác trong Chuyên đề Hệ thống Đổi mới Nông nghiệp: