Chuỗi giá trị toàn cầu đang từng ngày thay đổi cách sản xuất, quá trình chuyên môn hóa và đầu tư trên toàn thế giới. Ngành nông sản cũng không nằm ngoài xu hướng này.

Báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thế giới (WB) về tương lai của thực phẩm, tối ưu hóa tài trợ phát triển cho chuỗi giá trị nông nghiệp 2018, các chuỗi giá trị nông nghiệp chịu chi phối của những người chơi đến từ khu vực tư nhân, cả quy mô lớn và nhỏ. Sản xuất nông nghiệp được coi là lĩnh vực tư nhân bao gồm khoảng 450 triệu tiểu thương sản xuất nhỏ lẻ và các nhà sản xuất quy mô lớn. Tại các nước có thu nhập bình quân đầu người thấp và cận dưới trung bình, 95% các nông trại có diện tích nhỏ hơn năm héc-ta. Những nông trại nhỏ này thường chiếm 3/4 diện tích đất nông nghiệp ở các nước có thu nhập thấp và khoảng 2/3 diện tích đất ở các nước có thu nhập cận dưới trung bình. Nhóm tiểu thương gồm cả nông dân, các nhà sản xuất thương mại kinh doanh ở những thị trường địa phương tự do, và cả những người bán hàng ở các thị trường có tổ chức thông qua hợp đồng với bên mua. Nhiều hoạt động năng suất cao diễn ra bên ngoài nông trại trong chuỗi giá trị nông nghiệp ở các nước đang phát triển được thực hiện bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cùng một vài doanh nghiệp lớn. Trong khi đó, tại các nước có thu nhập bình quân đầu người cao và ở cận trên trung bình, thị trường đa số do nông dân làm chủ.

HIỂU VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ

Hiểu một cách đơn giản, chuỗi giá trị đại diện cho một nhóm các hoạt động liên kết với nhau nhằm chuyển hóa nguyên liệu thô sơ thành sản phẩm hàng hóa, đồng thời giúp tạo thêm giá trị cho sản phẩm. Chuỗi giá trị thường bao gồm các nhân tố con người và hoạt động giúp cải tiến sản phẩm thông qua kết nối các nhà sản xuất hàng hóa với các nhà chế biến và thị trường. các hoạt động chuyển hóa có thể là sản xuất, marketing hay giao nhận hàng hóa hóa hoặc dịch vụ đến tay người tiêu thụ cuối cùng.

Chuỗi giá trị được cho là vận hành tốt nhất khi các nhân tố kết hợp với nhau tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao và tạo thêm thu nhập cho những người tham gia chuỗi, thay vì chỉ trao đổi thông tin giá cả trong tình trạng cạnh tranh. Chuỗi giá trị khác với chuỗi cung ứng, bởi chuỗi cung ứng liên quan đến kho vận là vận tải giao nhận – một trong những quy trình nhằm đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng.

Một chuỗi giá trị chứa đựng luồng sản phẩm,  kiến thức và thông tin, tài chính, thanh toán, và vốn xã hội cần thiết để thiết lập nhà sản xuất và cộng đồng sản xuất. Thông tin đóng vai trò đặc biệt quan trọng với tất cả các thành phần và vòng quay của chuỗi giá trị qua hai chiều hướng. Một mặt, thị trường đem lại thông tin về giá cả, nhu cầu số lượng và chất lượng, các lựa chọn công nghệ và chế biến sản phẩm. Mặt khác nhà sản xuất đưa thông tin cho các nhà chế biến và thị trường về số lượng sản phẩm, địa điểm, thời gian và các vấn đề liên quan đến sản xuất. Trong một chuỗi giá trị,  các bên marketing và chế biến có thể cung cấp cho nhà sản xuất vốn, nguyên liệu đầu vào cũng như hướng dẫn các công nghệ sản xuất.

Chuỗi giá trị nông nghiệp bao gồm các hoạt động như: phát triển và phân phối các giống cây và vật nuôi, cung cấp nguyên liệu đầu vào, thành lập các hội nông dân,  sản xuất nông nghiệp nói chung, chế biến sau thu hoạch, cung cấp công nghệ sản xuất và chế biến, hạ tầng và tiêu chí phân loại sản phẩm, công nghệ đóng gói và làm lạnh, chế biến nông nghiệp, cất trữ, kho bãi,vận tải, tài chính và khảo sát thị trường.

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ

Ngành nông nghiệp tại các nước đang phát triển thường vận hành trong chuỗi giá trị kép, gồm kiểu truyền thống (phi chính thức) và kiểu hiện đại (chính thức), tồn tại song song cho cùng một loại sản phẩm. Các nhà sản xuất nhỏ thường tham gia vào các chuỗi giá trị truyền thống hay phi chính thức, trong đó sản phẩm được giao cho trung gian tại địa phương, rồi phân phối đi các cửa hàng bán lẻ lân cận. Chuỗi giá trị hiện đại hay chính thức có thể trung chuyển và bán cùng một loại sản phẩm, nhưng thường theo cách thức đồng bộ và chất lượng hơn, tức là từ những nơi sản xuất lớn hoặc tập trung hơn tới các nhà bán buôn, từ đó phân phối cho các siêu thị hoặc các nhà xuất khẩu.

Hai mặt của chuỗi giá trị nông nghiệp tại các nước đang phát triển đặc biệt thể hiện rõ thông qua sự bùng nổ các siêu thị.Sự tồn tại của hai kiểu chuỗi giá trị trong nông nghiệp thường giới hạn các nhà sản xuất nhỏ lẻ trong những thị trường có chất lượng sản phẩm thấp, giá thấp và vì thế lợi nhuận cũng thấp. Do vậy, vấn đề đặt ra là thường xuyên cho các nhà hoạch định chính sách và cả thị trường nói chung là làm sao để các hộ sản xuất nhỏ có thể tham gia vào chuỗi giá trị hiện đại, cả theo hướng phát triển nội địa và xuất khẩu.

Trên phạm vi toàn cầu, một nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) về tác động chính sách đối với chuỗi giá trị nông nghiệp chỉ ra rằng Mỹ và Trung Quốc hiện đang dẫn đầu và giá trị thương mại trong ngành nông sản trên toàn thế giới, cả ở khía cạnh cung và cầu. Trong khi đó, ở châu Âu, giao dịch liên khu vực và liên vùng diễn ra mạnh mẽ hơn. Còn tại châu Á, thương mại tập trung chủ yếu ở những nước lớn trong khu vực.Theo nghiên cứu của OECD, đối với ngành nông nghiệp thương mại liên khu vực đóng góp 85% tổng giá trị thặng dư thương mại cho Châu Âu, 56% cho Châu Á và chỉ 21% cho Châu Mỹ. Số liệu thống kê năm 2017 còn cho thấy, trong khuôn khổ giao dịch thương mại song phương, ba quốc gia đầu bảng về nắm giữ giá trị thặng dư thương mại trong nông nghiệp là Mỹ, Trung Quốc và Đức.

Do sự tham gia đa dạng của các thành phần cũng như sự tồn tại của nhiều khâu trong chuỗi giá trị nông nghiệp, hệ sinh thái cho cả chuỗi cần được phát triển đồng bộ nhằm tạo thị trường cũng như đẩy mạnh hiệu quả và thay đổi cho chuỗi. Các cơ quan lương thực và nông nghiệp của Liên Hợp Quốc dự báo cần thêm 140 tỷ USD tài trợ mỗi năm cho phát triển nông nghiệp và nông thôn nhằm chấm dứt nạn đói và đói nghèo trên thế giới.

Trong đó còn huy động 50 tỷ USD mỗi năm từ khu vực tư nhân chủ yếu thông qua đầu tư nông trại và chế biến và 90 tỷ USD từ khu vực công thông qua nghiên cứu và phát triển hạ tầng nông thôn.Việc tiếp cận nguồn vốn của các hộ nông dân nhỏ lẻ và cả một bộ phận các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường được coi là trở ngại lớn cho tăng trưởng và chuyển đổi nông nghiệp tại các thị trường mới nổi. Cải thiện chất lượng chi tiêu con có thể coi là một trong những biện pháp đáp ứng nhu cầu vay vốn ngày càng gia tăng trong phát triển nông nghiệp. Các tác động phát triển từ cải cách cơ cấu chi công cho nông nghiệp có thể đem lại hiệu quả cao hơn việc tăng mức phân bố ngân sách cho ngành mà không thay đổi cơ cấu chi tiêu. Ví dụ từ một số phân tích của ngân hàng thế giới cho thấy, tại các quốc gia Châu Mỹ La Tinh, việc giảm tỉ trọng trợ cấp hàng hóa tư nhân và tăng tỷ trọng chi tiêu cho hàng hóa công cộng có tác động tích cực lên tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn,môi trường và xóa đói giảm nghèo. Tương tự, nghiên cứu gần đây của định chế tài chính này tại Hạ Sahara ở Châu Phi cũng cho thấy việc cân bằng cơ cấu chi tiêu công cho nông nghiệp hướng tới thu lợi từ hàng hóa công cộng cũng đem lại hiệu quả đáng kể.

Trong khi hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho nông nghiệp vẫn có vai trò quan trọng ở các nước nghèo trên thế giới, các nhà đầu tư từ khối tư nhân cũng là nhân tố giúp thu hẹp khoảng cách về vốn trong phát triển nông nghiệp. Môi trường đầu tư tư nhân trong nông nghiệp tại các nước đang phát triển ngày càng mở rộng với nhiều hình thức, cung cấp vốn hoạt động và được coi là phương án tài chính dài hạn. Thực tế từ báo cáo của WB cho thấy, 45% nguồn vốn vay của các hộ nông dân nhỏ nhỏ lẻ đến từ những định chế tài chính không chính thức và cộng đồng, trong khi tỷ lệ vốn vay từ các định chế cho vay chính thức chỉ chiếm 25%.Đáng chú ý là hình thức các quỹ đầu tư nông nghiệp. Các quỹ này thường kêu gọi vốn từ các nhà đầu tư thông qua các danh mục đầu tư tài chính cho các chuỗi giá trị nông nghiệp. Hình thức quỹ đa dạng từ các quỹ đầu tư mạo hiểm (venture capital), quỹ đầu tư vốn cổ phần tư nhân (private equity) hoặc các quỹ hưu trí (pension fund).

Các công cụ tài chính được huy động thông qua các quỹ này thường gồm dạng cổ phần (private equity), nợ (debt) hoặc bảo lãnh(guarantees).

Đầu tư mạo hiểm cho các startup về công nghệ Nông nghiệp cũng đang trở thành xu hướng tài trợ để phát triển hệ sinh thái chuỗi giá trị nông sản. Theo báo cáo về các quỹ đầu tư nông nghiệp cho phát triển 2018 của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO),danh mục đầu tư nông nghiệp của 30 quỹ đầu tư nông nghiệp trên thế giới hiện nay là 2,6 tỷ USD.

Trong khi đó,để đảm bảo lương thực cho 9,1 tỷ dân trên thế giới vào năm 2050 ước tính cần đầu tư ròng khoảng 83 tỷ USD mỗi năm cho ngành nông nghiệp tại các nước đang phát triển.

Trong bối cảnh đó, chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu và khu vực đang trở thành tiêu điểm quan tâm cho những người làm nghề nông trong khối ASEAN cũng như những người tham gia vào các hoạt động sản xuất thực phẩm. Asean chứng kiến mức tăng trưởng nhanh trong sản xuất nông nghiệp những năm gần đây,góp phần đáng kể vào thị trường thế giới. Xuất khẩu ròng nông nghiệp – thực phẩm tăng từ khoảng 6 tỷ USD năm 1990 lên 50 tỷ USD năm 2014. Sản xuất nông nghiệp – thực phẩm tăng mạnh cũng góp phần tăng thu nhập. Với thực tế dân số ASEAN tăng nhanh trong những năm trở lại đây, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến thị trường khu vực và quốc tế để đáp ứng nhu cầu thực phẩm của mình. Trong giai đoạn 1990 – 2014, nhập khẩu nông nghiệp – thực phẩm ước tính đã tăng 9 lần. Số liệu về giá trị gia tăng trong thương mại cho thấy ASEAN hội nhập rất mạnh vào chuỗi giá trị nông nghiệp – thực phẩm toàn cầu. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khoảng cách đáng kể trong mối liên kết liên quốc gia trong khu vực, ngoại trừ quan hệ giữa một số nước như Indonesia, Malaysia, hay giữa Campuchia và Lào với Việt Nam. Tỷ trọng tham gia của ASEAN vào chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu có sự khác biệt so với mức trung bình của thế giới trong 20 nhóm hàng Nông Nghiệp – Thực Phẩm. Ở phạm vi toàn cầu, đa số các quốc gia có xu hướng mua nhiều và bán ít cùng một loại ngành hàng hoặc ngược lại trong chuỗi giá trị nông sản. Ví dụ, nếu một quốc gia có mối liên kết người mua mạnh do nhập nguyên liệu từ thị trường thế giới thì mối liên kết người bán sẽ yếu hơn do không xuất khẩu được nguyên liệu cùng loại cho các thị trường quốc tế. Tuy nhiên, mối tương quan này ở khu vực ASEAN không đồng nhất. Cùng là ngành hàng dầu thực vật,nhóm sản phẩm dầu và chất béo từ thực vật (ví dụ như dầu cọ chế biến) đứng đầu trong bảng mối liên kết người bán do các nước trong khu vực chủ yếu bán nguyên liệu thô cho các nơi chế biến từ các quốc gia khác.Trong khi đó, nhóm  sản phẩm dầu từ các loại hạt đứng trong top đầu liên kết người mua do các nước đa phần nhập nguyên liệu từ thị trường thế giới. Như vậy, cùng là ngành hàng dầu thực vật, các nước ASEAN vừa dẫn đầu nhóm mua và bán nguyên liệu trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Sự tăng trưởng nhanh chóng của các thị trường sản xuất và tiêu dùng ở quy mô khu vực và quốc tế cho thấy cần phải có các yếu tố hỗ trợ chuỗi giá trị nông nghiệp – thực phẩm vận hành hiệu quả.  ASEAN cũng không phải ngoại lệ khi mà các mối liên kết thương mại mua bán quan trọng giữa Đông Nam Á và các khu vực khác trên thế giới cho thấy cạnh tranh trong xuất khẩu nông sản bị chi phối mạnh mẽ bởi những chính sách có thể làm tăng chi phí hàng hóa nhập khẩu.

Đối với nhiều ngành nông sản, kể cả những ngành xuất khẩu lớn, nguyên liệu nhập khẩu chiếm một phần quan trọng trong giá trị hàng hóa xuất khẩu. Do vậy, phân tích tác động chính sách đối với sự tham gia chuỗi giá trị nông sản toàn cầu cũng như những lợi ích đi kèm cũng chỉ ra rằng các quyết định chính sách liên quan đến nông nghiệp và phi nông nghiệp đều có ảnh hưởng đến ngành nông sản – thực phẩm.

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAM GIA VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

Sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu trong nông nghiệp ảnh hưởng bởi 3 yếu tố chính. Thứ nhất là các chính sách thương mại và đầu tư:  Ví dụ như các biện pháp thuế quan và phi thuế quan, luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI) và chất lượng của các thủ tục hải quan.Thứ hai là năng lực nông nghiệp nội địa:  là những vấn đề liên quan tới hạ tầng vận tải, khả năng tài chính và chi trả, các hệ thống giáo dục và an toàn thực phẩm. Thứ ba là đánh giá các đặc điểm mang tính cấu trúc của nền kinh tế: như các mức độ phát triển,  khác biệt từ các thị trường khác nhau, diện tích đất nông nghiệp sẵn có.

VẤN ĐỀ ĐẶT RA THƯỜNG XUYÊN CHO CÁC NHÀ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH VÀ CẢ THỊ TRƯỜNG NÓI CHUNG LÀ LÀM SAO ĐỂ CÁC HỘ SẢN XUẤT NHỎ CÓ THỂ THAM GIA VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ HIỆN ĐẠI, CẢ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NỘI ĐỊA VÀ XUẤT KHẨU.

Các chính sách thương mại và đầu tư được coi là chìa khóa ảnh hưởng tới sự tham gia chuỗi giá trị toàn cầu cũng như tạo ra giá trị thặng dư nội địa.Thuế nhập khẩu và xuất khẩu, cùng với hàng rào kiểm dịch và kỹ thuật không chỉ giảm sự hội nhập vào chuỗi giá trị mà còn giảm giá trị thặng dư do làm tăng chi phí sản xuất trong khi khả năng cạnh tranh giảm. Các biện pháp phi thuế quan có thể giảm sự tham gia vào chuỗi giá trị nếu các biện pháp này gây bất lợi cho các đối tác giao dịch thương mại. Bên cạnh đó, thủ tục hải quan góp phần quan trọng trong việc quyết định chi phí và khả năng tham gia vào chuỗi giá trị của các nhà sản xuất nông nghiệp. Hệ thống và quy trình thông quan tinh giản, rõ ràng, tạo thuận lợi lưu thông hàng hóa, giúp các doanh nghiệp tăng sự tham gia giao dịch trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Đối với những nhà sản xuất tham gia vào chuỗi với tư cách người bán,  các hiệp định thương mại khu vực có ý nghĩa quan trọng. những nước có nhiều giao dịch trong khuôn khổ các thỏa thuận thương mại ưu đãi (Preferential Trade Agreement – PTA)  thường có sự liên kết người bán lớn hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Năng lực nông nghiệp trong nước như hạ tầng cơ sở và vận tải, trình độ giáo dục, hay nghiên cứu và phát triển nông nghiệp cũng đều là những yếu tố có liên hệ tích cực tới việc tạo ra các giá trị thặng dư nội địa và tạo sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Một hệ thống giáo dục và đào tạo hiệu quả không chỉ giúp tăng năng suất trong nông nghiệp, mà còn hỗ trợ các doanh nghiệp đạt các chứng chỉ sản phẩm (như GlobalGap) nhanh chóng, tăng tự tin khi giao dịch và tham gia vào chuỗi giá trị, không chỉ trong nước mà còn ở phạm vi quốc tế.

Một yếu tố khác góp phần tăng năng lực nội địa cho ngành nông sản là mật độ và mức độ nghiên cứu phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, cần chú ý rằng với trình độ nghiên cứu phát triển cao, các nhà sản xuất có xu hướng tham gia vào liên kết đi mua nhiều hơn do trọng tâm sản xuất dịch chuyển sang các hàng hóa thuộc khâu tiêu dùng cuối cùng trong chuỗi giá trị. Do đó nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào để sản xuất của các doanh nghiệp hoặc cấp quốc gia dạng này cũng tăng cao hơn  nhu cầu xuất khẩu thô.

Cuối cùng, khả năng tham gia vào chuỗi giá trị nông nghiệp dù ở trong nước hay trên bình diện quốc tế đều bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm mang tính cấu trúc của nền kinh tế. Trong đó, nguồn đất sẵn có để dùng cho nông nghiệp –   một tiêu chí đánh giá khả năng sản xuất của một quốc gia – ảnh hưởng tiêu cực tới sự tham gia liên kết người mua và ảnh hưởng tích cực tới sự tham gia liên kết người bán.

Với nguồn đất nông nghiệp dồi dào, khả năng tự sản xuất nguyên liệu đầu vào tăng lên, do đó giảm nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu. Đồng thời, sản xuất tăng cao cũng làm tăng khả năng xuất khẩu và sự tham gia liên tục vào chuỗi giá trị.

Trước tình hình thị trường nông nghiệp thế giới đang diễn biến phức tạp do sự tập trung không đồng đều và một số điểm của chuỗi giá trị nông sản, cũng như nhu cầu và lương thực và an toàn thực phẩm tăng cao, việc nhận diện lợi ích và thách thức khi tham gia thị trường toàn cầu đang trở nên ngày càng quan trọng. Các doanh nghiệp tham gia cuộc chơi cần xem xét tiếp cận về chuỗi giá trị nông nghiệp không chỉ thông qua hiểu biết về chuỗi, năng lực cung cấp, mà còn cần chú ý đến các chiến lược quản trị và nắm bắt thông tin tương ứng. Bên cạnh đó, một môi trường thương mại lành mạnh với các chính sách khuyến khích phát triển và sản xuất nông nghiệp cũng như hợp tác công tư là chìa khóa quan trọng thúc đẩy sự tham gia tích cực, đồng thời cải thiện hiệu quả của các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị nông sản toàn cầu.

NGUỒN : HÀ LÊ – TẠP CHÍ NHÀ QUẢN LÝ