Tình hình phát triển bền vững môi trường ở Việt Nam hiện nay

Tình hình phát triển bền vững môi trường ở Việt Nam hiện nay

Việc phát triển bền vững môi trường dựa trên nguyên tắc bình đẳng, nâng cao chất lượng cuộc sống và khả năng chống chịu của người dân đối với biến đổi khí hậu. Đây là điều kiện để đảm bảo cơ hội phát huy năng lực cũng như thụ hưởng thành quả của sự phát triển, không để ai bị bỏ lại trong quá trình chuyển đổi xanh.

Bảo vệ môi trường có mối quan hệ chặt chẽ đến phát triển bền vững

Phát triển bền vững chính là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của con người mà không gây tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai. Và “để thực hiện phát triển bền vững, bảo vệ môi trường nhất thiết là một bộ phận cấu thành của quá trình và không thể tách rời quá trình đó” (Theo Ủy ban Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc). 

Chính vì lẽ đó, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững có mối quan hệ biện chứng và mật thiết với nhau. Trong đó, để phát triển bền vững tất yếu phải bảo vệ môi trường và ngược lại, bảo vệ môi trường phải vì mục tiêu phát triển bền vững.

Chiến lược thịnh vượng về kinh tế và bền vững về môi trường

Chiến lược tăng trưởng xanh của quốc gia giai đoạn 2021 – 2030 và tầm nhìn 2050 vừa được Chính phủ phê duyệt, khẳng định rất rõ ràng: Tăng trưởng xanh đã góp phần thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, để đạt được thịnh vượng về kinh tế, bền vững về môi trường và mục tiêu công bằng về xã hội; hướng tới nền kinh tế xanh, trung hòa lượng carbon và đóng góp vào mục tiêu hạn chế sự gia tăng nhiệt độ trên toàn cầu.

17 mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030
Danh sách 17 mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030. Nguồn: Wikipedia.

Trong 17 mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam đến năm 2030 có tới 4 mục tiêu trực tiếp về bảo vệ môi trường. Ngoài ra, Luật Bảo vệ môi trường 2020 nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường chính là điều kiện, nền tảng, yếu tố trung tâm và tiên quyết cho phát triển kinh tế – xã hội bền vững” (khoản 2 Điều 4). Đồng thời giải thích: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đến môi trường; ứng phó với các sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, tình trạng suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường; sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu” (khoản 2 Điều 3). 

Từ đó có thể thấy, bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ giai đoạn rất sớm. Bên cạnh đó luôn được xác định trong công cuộc phát triển đất nước.

Tình hình phát triển bền vững môi trường ở Việt Nam

Chiến lược tăng trưởng xanh của quốc gia giai đoạn 2021 – 2030 và tầm nhìn 2050 đặt ra 3 mục tiêu quan trọng là: Giảm phát thải, xanh hóa ngành kinh tế và xanh hóa trong lối sống, thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

Mục tiêu giảm phát thải ít nhất 30%

Mục tiêu lâu dài trong chiến lược tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu chính là giảm cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP. Theo đó, chiến lược đặt ra mốc đến 2030, cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP phải giảm ít nhất 15% so với 2014. Thời gian xa hơn, vào 2050, cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP phải giảm ít nhất 30% so với 2014.

Mục tiêu xanh hóa ngành kinh tế

Để thực hiện xanh hóa các ngành kinh tế phải hướng đến việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh hóa các ngành kinh tế. Doanh nghiệp áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn thông qua việc khai thác và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và năng lượng.

Tất cả dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ, ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi số. Đồng thời, phát triển kết cấu hạ tầng bền vững để có thể nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát huy lợi thế cạnh tranh và giảm thiểu được những tác động tiêu cực đến môi trường.

Mục tiêu đến năm 2030 là tiêu hao năng lượng sơ cấp trên GDP bình quân của giai đoạn 2021 – 2030 giảm từ 1,0 – 1,5%/năm; tỷ trọng của năng lượng tái tạo trên tổng cung cấp năng lượng sơ cấp ít nhất đạt 15 – 20%; kinh tế số phải đạt 30% GDP; tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở 42%; và ít nhất 30% tổng diện tích cây trồng cạn có tưới được áp dụng phương pháp tưới tiên tiến cũng như tiết kiệm nước.

Mục tiêu đến năm 2050 sẽ giảm 1,0%/năm tiêu hao năng lượng sơ cấp trên GDP bình quân mỗi giai đoạn (10 năm); tỷ trọng năng lượng tái tạo trên tổng cung cấp năng lượng sơ cấp đạt được 25 – 30%; phấn đấu để kinh tế số đạt 50% GDP; tỷ lệ che phủ rừng ổn định đạt ở mức 42 – 43%; và ít nhất 60% tổng diện tích cây trồng cạn có tưới được áp dụng phương pháp tưới tiên tiến cũng như tiết kiệm nước.

Xanh hóa trong lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững

Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững hướng đến việc thay đổi thói quen và hành vi của người dân. Đây là biện pháp có hiệu quả lâu dài.

Việt Nam đặt nhiều mục tiêu phát triển bền vững môi trường đến năm 2030: 

  • Tỷ lệ chất thải rắn của sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn theo quy định đạt mức 95%; 
  • Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được xử lý bằng biện pháp chôn lấp trực tiếp so với lượng chất thải được thu gom sẽ chiếm 10%; 
  • Tỷ lệ nước thải đô thị được thu gom và được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn theo quy định lần lượt đạt trên 50% đối với dạng đô thị loại II trở lên và 20% đối với những loại đô thị còn lại; 
  • Tỷ lệ đảm nhận vận tải hành khách công cộng tại các đô thị đặc biệt, đô thị loại I phải lần lượt đạt ít nhất 20% và 5%; tỷ lệ xe buýt sử dụng nguồn năng lượng sạch tại các đô thị đặc biệt đạt ít nhất 15% với tổng số xe buýt đang hoạt động và tại đô thị loại I sẽ đạt 10% số lượng xe buýt mới; 
  • Tỷ lệ mua sắm công xanh trên tổng mua sắm công đạt ít nhất 35%; ít nhất 10 đô thị phê duyệt và thực hiện đề án tổng thể về phát triển đô thị tăng trưởng xanh theo xu hướng đô thị thông minh bền vững.

Mục tiêu phát triển bền vững môi trường đến 2050:

Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia đạt 100% (trong đó hạn chế tối đa việc chôn lấp chất thải rắn hữu cơ cũng như chất thải có thể tái chế); 

  • 100% các đô thị xây dựng đồng bộ và hoàn thiện hệ thống thoát nước, loại bỏ hẳn tình trạng ngập úng tại các đô thị ; 
  • 100% nước thải được xử lý phải đảm bảo được quy chuẩn kỹ thuật trước khi xả ra nguồn tiếp nhận; 
  • Tỷ lệ đảm nhận của vận tải hành khách công cộng tại các đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I lần lượt đạt ít nhất 40% và 15%;
  • Tỷ lệ xe buýt sử dụng nguồn năng lượng sạch tại các đô thị loại đặc biệt và đô thị loại I lần lượt đạt 100%; 
  • Ít nhất 40% số lượng xe buýt được đầu tư mới; tỷ lệ mua sắm công xanh trên tổng mua sắm công đạt ít nhất 50%; 
  • Ít nhất 45 đô thị phê duyệt và thực hiện đề án tổng thể về phát triển đô thị tăng trưởng xanh theo xu hướng đô thị thông minh bền vững.
Tìm hiểu 17 mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam đến năm 2030

Tìm hiểu 17 mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam đến năm 2030

17 mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam đã được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua với mong muốn giải quyết nạn đói nghèo, bảo vệ hành tinh đồng thời đảm bảo sự thịnh vượng cho mỗi người.

Là một trong những quốc gia cam kết thực hiện nghiêm túc, 17 mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam đến năm 2030 đã và đang đóng vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân.

Green Edu ruong doc dao

Bối cảnh ra đời 17 mục tiêu phát triển bền vững

Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường và con người (Hội nghị Stockholm) được tổ chức từ ngày 5-16/6/1972 là hội nghị đầu tiên tập trung vào các vấn đề môi trường quốc tế. Tháng 12/1983, Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (WCED – Ủy ban Brundtland) được thành lập để đoàn kết các quốc gia đồng hành cùng nhau theo đuổi sự phát triển bền vững.

Vào năm 1992, với sự tham gia của 179 quốc gia, Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Môi trường và Phát triển (Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất Rio de Janeiro) đã thông qua Chương trình Nghị sự 21 trở thành khung kế hoạch chung để thiết kế các chương trình hành động, nhằm đạt được sự phát triển bền vững ở thế kỷ XXI.

Tháng 6/2012, Hội nghị cấp cao của Liên hợp quốc về phát triển bền vững (Rio+20) đã được tổ chức. Thông qua đó tập trung bàn thảo vào các nội dung cần cải thiện trong khuôn khổ thể chế, nhằm phát triển bền vững và tạo ra nền kinh tế xanh; thành lập các mục tiêu cũng như các chỉ số mới về phát triển bền vững…

Từ tháng 9/2013, các nước bắt đầu khởi động tiến trình xây dựng Chương trình nghị sự phát triển của Liên Hợp Quốc. Sau năm 2015, xây dựng bộ 17 mục tiêu phát triển bền vững. Và vào ngày 25/9/2015, tại Hội nghị thượng đỉnh Liên Hợp Quốc với sự tham dự của 193 nước thành viên, chương trình Nghị sự 2030 với 17 mục tiêu phát triển bền vững chính thức được thông qua. 

Nội dung của 17 mục tiêu bao gồm những gì ?

Việt Nam đã quốc gia hóa Chương trình Nghị sự 2030 của toàn cầu trở thành Kế hoạch hành động quốc gia. Thực hiện Chương trình Nghị sự 2030 với 17 mục tiêu phát triển bền vững phù hợp với điều kiện và ưu tiên phát triển của quốc gia. Và nội dung cụ thể của 17 mục tiêu phát triển bền vững:

  • Mục tiêu 1: No poverty – Chấm dứt mọi hình thức nghèo ở mọi nơi
  • Mục tiêu 2: Zero hunger – Xóa đói, bảo đảm an ninh lương thực, cải thiện dinh dưỡng và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững
  • Mục tiêu 3: Good health and well-being – Bảo đảm cuộc sống khỏe mạnh và tăng cường phúc lợi cho mọi người ở mọi lứa tuổi
  • Mục tiêu 4: Quality education – Đảm bảo nền giáo dục có chất lượng, công bằng, toàn diện và thúc đẩy các cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người
  • Mục tiêu 5: Gender equality – Đạt được bình đẳng giới; tăng quyền và tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái
  • Mục tiêu 6: Clean water and sanitation – Đảm bảo đầy đủ và quản lý bền vững tài nguyên nước và hệ thống vệ sinh cho tất cả mọi người
  • Mục tiêu 7: Affordable and clean energy – Đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn năng lượng bền vững, đáng tin cậy và có khả năng chi trả cho tất cả mọi người
  • Mục tiêu 8: Decent work and economic growth – Đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững, toàn diện, liên tục; tạo việc làm đầy đủ, năng suất và việc làm tốt cho tất cả mọi người
  • Mục tiêu 9: Industry, innovation and infrastructure – Xây dựng cơ sở hạ tầng có khả năng chống chịu cao, thúc đẩy công nghiệp hóa bao trùm và bền vững, tăng cường đổi mới
  • Mục tiêu 10: Reduced inequalities – Giảm bất bình đẳng trong xã hội
  • Mục tiêu 11: Sustainable cities and communities – Phát triển đô thị, nông thôn bền vững, có khả năng chống chịu; đảm bảo môi trường sống và làm việc an toàn; phân bổ hợp lý dân cư và lao động theo vùng
  • Mục tiêu 12: Responsible consumption and production – Đảm bảo sản xuất và tiêu dùng bền vững
  • Mục tiêu 13: Climate action – Ứng phó kịp thời, hiệu quả với biến đổi khí hậu và thiên tai
  • Mục tiêu 14: Life below water – Bảo tồn và sử dụng bền vững đại dương, biển và nguồn lợi biển để phát triển bền vững
  • Mục tiêu 15: Life on land – Bảo vệ và phát triển rừng bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển dịch vụ hệ sinh thái, chống sa mạc hóa, ngăn chặn suy thoái và phục hồi tài nguyên đất
  • Mục tiêu 16: Peace, justice and strong institutions – Thúc đẩy xã hội hòa bình, dân chủ, công bằng, bình đẳng, văn minh vì sự phát triển bền vững, tạo khả năng tiếp cận công lý cho tất cả mọi người; xây dựng các thể chế hiệu quả, có trách nhiệm giải trình và có sự tham gia ở các cấp
  • Mục tiêu 17: Partnerships for the goals – Tăng cường phương thức thực hiện và thúc đẩy đối tác toàn cầu vì sự phát triển bền vững

Phấn đấu thực hiện 17 mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam đến năm 2030

Chương trình Nghị sự 2030 có độ bao phủ của chính sách phổ quát, rộng lớn và toàn diện; tất cả với mục tiêu hoàn tất công việc dang dở của Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và Chương trình Nghị sự 21: Không để ai bị bỏ lại phía sau.

Việt Nam thường xuyên rà soát, cập nhật tình hình thực hiện chiến lược để chủ động báo cáo điều chỉnh phù hợp. Đồng thời, chính quyền cũng đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về phát triển bền vững đối với từng loại hình tổ chức và doanh nghiệp.

Là một nền kinh tế mới nổi, Việt Nam cần tăng cường năng lực R&D của các doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh toàn cầu và kết hợp sản xuất tiêu dùng bền vững. 

Theo báo cáo mục tiêu phát triển bền vững quốc gia năm 2020 (SDGs), đến năm 2030 Việt Nam có khả năng được 5 trong số 17 mục tiêu, gồm Mục tiêu 1; 2; 4; 13 và 17. Năm 2021, Việt Nam đã vươn lên xếp hạng thứ 51/165 quốc gia về điểm chỉ số SDG.

>> Những xu hướng khởi nghiệp xanh bảo vệ môi trường hàng đầu hiện nay