[GREEN TALK 08] SỐ ĐẶC BIỆT: “HỮU CƠ ĐÁNG GIÁ BAO NHIÊU”

[GREEN TALK 08] SỐ ĐẶC BIỆT: “HỮU CƠ ĐÁNG GIÁ BAO NHIÊU”

Ngày 4/10/20, sự kiện Green Talk đặc biệt đã diễn ra tại Hà Nội với sự tham gia của 41 người quan tâm và đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ.

Buổi sáng, đoàn tham quan di chuyển từ Hà Nội đến Vĩnh Phúc. Tại đây, đoàn được tiếp đón niềm nở bởi đại diện trang trại Darwin. Tọa lạc ngay trong trang trại là một hội trường rộng rãi, nơi người tham dự được nghe trình bày về tình hình nông nghiệp hữu cơ thế giới và tham dự tọa đàm nông nghiệp với chủ đề “Hữu cơ đáng giá bao nhiêu”.

Tọa đàm vinh dự có sự góp mặt của 5 khách mời: TS. Nguyễn Bá Hùng – Viện trưởng Viện Kinh tế nông nghiệp hữu cơ, bác Lê Thuần Phong – Chủ trang trại Darwin (đạt chứng nhận USDA), chị Trần Thị Thanh Bình – Phó trưởng ban điều phối Hệ thống PGS, anh Trần Mạnh Chiến – CEO  hệ thống cửa hàng Bác Tôm và anh Ngô Văn Nghị – trưởng BQL Liên nhóm Thanh Xuân (Sóc Sơn). Trong phiên tọa đàm, các diễn giả lần lượt chia sẻ những kinh nghiệm, kỉ niệm trong hành trình theo đuổi nông nghiệp hữu cơ của mình.

Tọa đàm tại sự kiện Green Talk 08 – “Hữu cơ đáng giá bao nhiêu”.

NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ LÀ MỘT MÓN QUÀ

Với bác Phong – chủ trang trại Darwin, lý do đến với nông nghiệp hữu cơ chỉ đơn giản là vì bác muốn để lại cho con gái một món quà thực sự ý nghĩa. Vì vậy mà dù tuổi đã cao, bác đã chọn một vùng đất tách biệt để khai hoang, xây dựng nên một nông trại hữu cơ hiện đại đạt chuẩn quốc tế USDA. Trang trại Darwin định hướng trở thành một trang trại giáo dục – nơi đón các em học sinh trường quốc tế Olympia đến tham quan và học tập về nông nghiệp hữu cơ, về đa dạng sinh thái.

Hội trường rộng  rãi được tài trợ bởi trang trại Darwin – nơi người tham dự sự kiện Green Talk 08 ngồi nghe chia sẻ.

Để lấy được chứng nhận hữu cơ chuẩn quốc tế không dễ dàng chút nào, TS. Nguyễn Bá Hùng cho biết: “Ở nước ngoài, người ta chỉ gọi sản phẩm là “Organic” khi mẫu đất, nước, mẫu sản phẩm đem đi kiểm nghiệm và đạt 600 chỉ tiêu hóa học, các yếu tố môi trường xung quanh phải được kiểm soát cực kỳ chặt chẽ và quy định thì phải tuân thủ nghiêm ngặt.” Ngoài ra, bác cũng nhấn mạnh rằng để có thể kiểm soát được sâu bệnh về lâu về dài, ta phải đảm bảo được sự cân bằng sinh thái, đa dạng sinh học trên trang trại.

CANH TÁC HỮU CƠ VỚI PGS – HƯỚNG ĐI CHO BÀ CON SẢN XUẤT NHỎ

Trong khi sản phẩm đạt chứng nhận hữu cơ quốc tế đã có những vị thế nhất định, chuẩn chứng nhận hữu cơ PGS ở “sân nhà” đã rất chật vật để chứng tỏ hiệu quả và sự minh bạch của hệ thống từ những ngày đầu tiên. Chia sẻ về hành trình phân phối nông sản hữu cơ đạt chuẩn PGS của mình, anh Trần Mạnh Chiến – CEO Chuỗi cửa hàng Bác Tôm kể, chuỗi ngày khởi đầu với nông nghiệp hữu cơ là chuỗi ngày đầy gian nan. Canh tác hữu cơ thì vất vả hơn so với canh tác hóa học, sản phẩm làm ra thì bị chê “xấu”, lại bán giá cao, 3 tháng trời đi chào hàng ở các siêu thị là 3 tháng bị trả hàng về, rau bị hắt hủi vì “vừa xấu vừa đắt”.

Nhận thấy không thể tiếp tục như vậy, anh thử nghiệm một hướng phân phối mới – bán lẻ thay vì bán buôn. Vậy là cửa hàng Bác Tôm đầu tiên ra đời, tiên phong cung cấp thực phẩm sạch cho khu vực Hà Nội, sau 11 năm phát triển, đến nay số lượng cửa hàng trong chuỗi đã là 21, như thế, “phép thử” đã thành công. 

Là một trong ba người đầu tiên xây dựng hệ thống PGS tại Việt Nam, anh Chiến chia sẻ thêm về sự khác biệt của mô hình PGS so với các mô hình lấy chứng nhận từ bên thứ ba. Khác với trang trại tư nhân – là trang trại của một cá thể, một hệ thống trang trại PGS được cấu thành bởi nhiều hộ nông dân nhỏ ở cạnh nhau, họ được tập huấn để canh tác theo tiêu chuẩn PGS Việt Nam và được giám sát thường xuyên. Quá trình giám sát trong hệ thống PGS được thực hiện bởi sự kết hợp giữa: giám sát chéo giữa các hộ/các nhóm với nhau, giám sát bởi doanh nghiệp khách hàng, giám sát từ kỹ sư thực địa cử ra bởi ban điều phối, và quá trình giám sát này được thực hiện liên tục thường xuyên vào hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng. 

Anh Chiến chia sẻ về hành trình phân phối nông sản hữu cơ của mình.

Tiếp nối tọa đàm là những lời trải lòng về giai đoạn đầu đầy khó khăn khi vận hành dự án ADDA*, mang nông nghiệp hữu cơ về với bà con dân tộc của chị Thanh Bình. Xuất thân là một giảng viên, chị góp sức vào dự án bằng công việc tư vấn, đào tạo cho bà con nông dân canh tác hữu cơ. Chị chia sẻ: “Trước khi thực hiện dự án thì chúng tôi là những người rất thích kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật, vì lãi thu được rất cao. Nhưng sau khi tham gia dự án, được tiếp xúc với kiến thức về nông nghiệp hữu cơ, tôi nhận ra đây là một mô hình rất nhân văn.” 

Làm việc với bà con nông dân không hề dễ dàng, chị Bình kể có lần bà con không tuân thủ quy trình bón phân, vì ngại ủ phân mà vét cả nước cặn biogas để bón cho rau, khi kiểm tra thì thấy nồng độ nitrat cao, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng, rồi thêm vào đó là tình trạng người cân nhiều, người cân thiếu. Chị Bình nói: “Đối với những người làm công tác giáo dục như tôi, nếu bà con chưa qua đào tạo mà vi phạm thì không sao, còn đã qua đào tạo rồi mà vẫn vi phạm thì rất đau lòng”. Bên cạnh giám sát quá trình canh tác của bà con nông dân, hệ thống PGS cũng cử người để đi giám sát các doanh nghiệp thành viên, xử lý ngay những tình trạng nhà phân phối tuồn hàng từ trại khác.

Chị Bình phát biểu: “12 năm nay, trên hành trình nông nghiệp hữu cơ, chúng tôi luôn tin tưởng bà con nông dân, doanh nghiệp, kỹ thuật viên chuyên môn, khách hàng, các thành viên. Tuy nhiên, niềm tin thôi chưa đủ,  tôi tin tưởng anh nhưng làm cách nào để sản xuất tốt nhất, như vậy thì phải kiểm soát nghiêm ngặt, chỉ cần một người vi phạm thôi thì cả nhóm sẽ bị thu hồi chứng nhận.”

Kết thúc tọa đàm, người tham dự được chủ trang trại Darwin và TS. Nguyễn Bá Hùng trực tiếp dẫn đi tham quan trang trại hữu cơ rộng 5 ha. Các khu vực tham quan bao gồm: hệ thống nhà màng, hồ chứa nước, trạm bơm, nhà sơ chế, khu vực vườn ươm. Trên đường tham quan, người tham dự vừa nghe giảng giải, vừa hỏi đáp thêm về kỹ thuật, về cách tổ chức trang trại với bác Hùng.

Người tham dự được chủ trang trại Darwin và TS. Nguyễn Bá Hùng trực tiếp dẫn đi tham quan trang trại hữu cơ rộng 5 ha.

THAM QUAN MÔ HÌNH CANH TÁC HỮU CƠ VỚI TIÊU CHUẨN PGS – TỪ SẢN XUẤT MANH MÚN TRỞ THÀNH MẠNG LƯỚI LIÊN KẾT HIỆU QUẢ

Rời trang trại Darwin tại Vĩnh Phúc, đoàn tham quan tiếp tục di chuyển đến khu vực trang trại hữu cơ rộng hơn 30 ha đạt chứng nhận PGS tại xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, Hà Nội.

Trang trại đang có nhiều nông sản chuẩn bị thu hoạch, người tham dự thích thú men theo những lối đi được lót rơm để tham quan từng khu vực vườn trồng. Một buổi chia sẻ đặc biệt đã diễn ra ngay ngoài trời. Ngồi giữa thiên nhiên, anh Nghị – Trưởng BQL Liên nhóm Thanh Xuân đã giới thiệu sơ lược về liên nhóm và chia sẻ thêm cho người tham dự các kiến thức về nông nghiệp hữu cơ. 

Về tổ chức, trang trại hữu cơ phải có hàng rào đệm để cách biệt với môi trường bên ngoài, rau củ quả thì được trồng trọt luân canh và xen canh nhằm hạn chế sâu bệnh, chế phẩm sinh học để phun xịt trừ bệnh hại phổ biến là hỗn hợp gừng, tỏi, ớt. Khi tình trạng sâu bệnh vượt tầm kiểm soát, nông dân sẽ tiến hành ngắt ngọn, hoặc thậm chí là tiêu hủy số rau. Dưới không khí chia sẻ thân mật, gần gũi, người tham dự đã nhiệt tình tương tác, liên tục đặt ra các câu hỏi để hiểu sâu hơn về cách tổ chức, vận hành trang trại hữu cơ. Sau buổi chia sẻ, người tham dự hăng hái tiếp tục khám phá trang trại và “thu hoạch” các bó rau, bắp ngô tươi lành.

Anh Nghị chia sẻ về kiến thức chăm sóc rau hữu cơ tại Liên nhóm Thanh Xuân
Anh Chiến và chị Bình tại Liên nhóm sản xuất rau hữu cơ PGS Thanh Xuân.

Sự kiện Green Talk 08 – “Hữu cơ đáng giá bao nhiêu” khép lại với những nụ cười rạng rỡ, những câu chuyện kết nối những câu chuyện kết nối giữa người tham dự. Hành trình tham quan trang trại hữu cơ lần này đã kết thúc nhưng chúng tôi tin rằng hành trình khám phá nông nghiệp hữu cơ của những người tham dự nhiệt tâm sẽ chưa dừng lại ở đó.

Green Edu xin chân thành cảm ơn Bác Lê Thuần Phong – Chủ trang trại Darwin đã nhiệt tình hỗ trợ địa điểm, cung cấp hội trường rộng rãi để Green Edu có thể tổ chức sự kiện Green Talk vì cộng đồng. BTC cũng xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị cô bác đang công tác trong hệ thống PGS đã tạo điều kiện để đoàn đến tham quan, học hỏi tại mô hình. Xin chúc sức khỏe và xin gửi lời cảm ơn đến cộng đồng người yêu nông nghiệp đã đồng hành cùng Green Edu.

Sự kiện Green Talk 08 – “Hữu cơ đáng giá bao nhiêu” khép lại với những nụ cười rạng rỡ.

 (*) Dự án ADDA: Dự án phát triển rau hữu cơ năm 2008 được vận hành bởi tổ chức ADDA (Tổ chức Phát triển Nông nghiệp Đan Mạch – Châu Á)

BÁN RAU ONLINE: “ĐƠN GIẢN, HIỆU QUẢ VÀ KHÔNG THƯƠNG HẠI”

BÁN RAU ONLINE: “ĐƠN GIẢN, HIỆU QUẢ VÀ KHÔNG THƯƠNG HẠI”

Đó là triết lý kinh doanh giúp giảm giá thành vận chuyển xuống mức dưới 25k cho mỗi đơn hàng được chị Đỗ Phan Hoàng Sương, CEO của DalatFOODIE chia sẻ trong Workshop “Xu hướng Thương mại điện tử và giải pháp bứt phá doanh thu cho các cửa hàng thực phẩm” sáng nay ngày 16/10/2020, tại Sihub 273 Điện Biên Phủ, TP.HCM. 

DalatFOODIE là thương hiệu thực phẩm hữu cơ được hơn 25.000 phụ nữ mang thai và bà mẹ bỉm sữa tin dùng. Bí quyết để tối ưu hóa giá vận chuyển, từ chiếm 12% xuống 7,8% giá trị mỗi đơn hàng của họ chính là: chủ động tới mức bán được hết hàng trước cả khi rau quả được thu hoạch, tinh tế tới mức test từng kích cỡ hộp để chị em mặc váy vẫn có thể chở rau về nhà, và ghi lại mọi chi phí dù là nhỏ nhất ngay từ khi mới khởi nghiệp kinh doanh.

Thực phẩm online tăng trưởng 65%

Anh Nguyễn Mạnh Tấn, Giám đốc Marketing Haravan, bật mí những chiến thuật để kinh doanh omnichannel (online & offline) thành công.

Những ai đang bán thực phẩm online chắc chắn cũng không thể bỏ qua phần chia sẻ của anh Nguyễn Mạnh Tấn, Giám đốc Marketing Haravan trong buổi sáng ngày hôm nay. 

Bạn có biết, mức tăng trưởng số lượt tìm kiếm của ngành hàng thực phẩm online tăng 65% chỉ trong tháng 02 – 03/2020, cao hơn cả ngành thời trang, thiết bị điện tử và chăm sóc sức khỏe?  Bạn có biết, từ tháng 4/2020, bạn có thể quảng cáo không tốn một xu trên Google nếu sử dụng Google Shopping? Đây là cơ hội ngàn năm có một được Google tung ra để cạnh tranh với Amazon trong mùa COVID.

Không có ngành nào mà tổng giá trị giao dịch được dự báo sẽ tăng gấp 3,3 lần trong 5 năm tới như thương mại điện tử. Dù là doanh nghiệp nhỏ hay lớn, chỉ cần có model đúng, bạn cũng có thể đạt được những con số ấn tượng như Đảo Hải Sản hay Kiehl’s trên thị trường. 

Lên ngay kẻo trễ : Nông sản và GrabMart

Anh Nguyễn Quốc Tuấn, Giám đốc Phát triển Thương mại Grab Vietnam giới thiệu tiềm năng của thương mại điện tử.

Nếu số cửa hàng thực phẩm trên các sàn truyền thống như Tiki, Grabfood… đã vượt lên con số chục ngàn, thì GrabMart, dịch vụ mua thực phẩm của siêu ứng dụng Grab từ các cửa hàng bán lẻ, siêu thị, ra mắt vào tháng 03/2020, mới chỉ có vài ngàn. Theo anh Nguyễn Quốc Tuấn, Giám đốc Phát triển Thương mại Grab Vietnam, đây là cơ hội rất lớn để nhà bán lẻ bứt phá thị trường, vượt lên trước các đối thủ cạnh tranh để tiếp cận hàng triệu người sử dụng Grab và tạo dựng vị thế cho mình. 

Để đăng ký bán hàng trên GrabMart, bạn cần có Giấy phép kinh doanh, Thông tin cá nhân của chủ sở hữu và đại diện pháp lý (CMND/CCCD), cùng Danh sách sản phẩm kèm hình ảnh và giá bán.

GrabMart đang ưu tiên cho những người buôn bán nhỏ, khuyến khích các cô bác tại các chợ truyền thống mở cửa hàng online. Đơn cử như trong lần ra quân vừa rồi tại Đà Nẵng, các nhân viên sẵn sàng chở cô bác đến ngân hàng mở tài khoản ngay để hoàn thành quy trình đăng ký. Lời cam kết giao hàng trong 1 giờ của GrabMart hứa hẹn sẽ thúc đẩy hành vi mua hàng online hơn nữa, bên cạnh các ứng dụng mua sắm thực phẩm khác như be Đi chợ, NowFresh, Lomart…

Ghi nhanh từ Workshop “Xu hướng Thương mại điện tử và giải pháp bứt phá doanh thu cho các cửa hàng thực phẩm”, nằm trong chuỗi hoạt động của chương trình “Ủng hộ nông dân – Chung tay vì nông sản Việt” chủ đề Yêu nông sản Việt của Food Connect. (foodconnect.vn)

[GREEN TALK 07] – Tư duy Thiết kế Trang trại

[GREEN TALK 07] – Tư duy Thiết kế Trang trại

Bạn muốn xây dựng một trang trại nhưng chưa biết nên bắt đầu từ đâu? Nên trồng cây gì để phát huy ưu thế của vùng? Làm sao để từng bước xây dựng cơ sở vật chất trang trại uyển chuyển theo ngân sách? Workshop [Green Talk 07] – TƯ DUY THIẾT KẾ TRANG TRẠI, diễn ra vào ngày thứ tư 23/09/2020 vừa qua, đã đem đến cho người tham dự các nguyên lý nền tảng, trải nghiệm thiết kế, và cơ hội thảo luận với chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng và thiết kế trang trại.

Sự kiện [Green Talk 07] – TƯ DUY THIẾT KẾ TRANG TRẠI hân hạnh có sự góp mặt của Tiến sĩ Nguyễn Bá Hùng – Viện trưởng Viện Kinh tế Nông nghiệp Hữu cơ. Trang trại Organik Đà Lạt do bác xây dựng là một trong những trang trại đạt chuẩn hữu cơ quốc tế đầu tiên của Việt Nam với hơn 150 chủng loại rau, củ quả khác nhau. Hiện nay, bác Hùng là chuyên gia tư vấn cho nhiều trang trại trên cả nước lấy được chứng nhận hữu cơ theo tiêu chuẩn USDA, EU và JAS.

Chương trình gồm 3 nội dung chính:

  1. Tư duy thiết kế trang trại
  2. Trải nghiệm thiết kế thực tiễn
  3. Thảo luận: Khởi nghiệp bằng trang trại

TƯ DUY THIẾT KẾ TRANG TRẠI

Để tổ chức sản xuất hiệu quả, người chủ trang trại cần nắm vững tư duy thiết kế dựa trên điều kiện tự nhiên, hệ sinh thái địa phương, và chuỗi giá trị nông sản. Các bước khảo sát ban đầu để nắm vững các yếu tố cơ bản gồm: quy hoạch, lịch sử vùng trồng, khí hậu, địa hình, nước, đất, cơ sở hạ tầng, các mắt xích trong chuỗi giá trị, và hệ sinh thái địa phương. Với mỗi yếu tố, đội ngũ Cộng sự Chuỗi giá trị (VCA) đến từ Green Edu đã giới thiệu đến người tham dự những điểm cần lưu ý cơ bản, những nguồn thông tin đáng tin cậy cũng như những ví dụ thực tế sinh động chắt lọc qua quá trình khảo sát, tư vấn cho nhiều trang trại khác nhau.

Để một trang trại có thể tiếp cận các chính sách hỗ trợ của nhà nước về vốn vay, ưu tiên khai thác đất, đào tạo nhân lực, hỗ trợ đầu ra, … thì trang trại cần đạt các yêu cầu theo Thông tư 02/2020/TT-BNNPTNT. Cụ thể, trang trại trồng trọt cần đạt giá trị sản xuất bình quân từ 1,0 tỷ đồng/năm trở lên và tổng diện tích đất sản xuất từ 1,0 ha trở lên.

Dù diện tích, quy mô, mục đích của mỗi trang trại là khác nhau, có các chức năng đi kèm với các cơ sở vật chất cơ bản mà mọi trang trại cần phải có, như nhà ở, nhà vệ sinh, nơi chứa nước, khu sản xuất, …  Mỗi hạng mục cơ sở vật chất này sẽ có những nguyên tắc cơ bản để đảm bảo an toàn và hiệu suất năng lượng cho toàn trang trại. 

Người tham dự hào hứng lắng nghe phần chia sẻ trong sự kiện [Green Talk 07] TƯ DUY THIẾT KẾ TRANG TRẠI

TRẢI NGHIỆM THIẾT KẾ THỰC TIỄN

Sau khi lắng nghe các kiến thức cơ bản về tư duy thiết kế, người tham dự được chia thành các nhóm để thử sức bố trí các hạng mục cơ sở vật chất chi tiết trên 2 sơ đồ trang trại mẫu. 2 sơ đồ này là của 2 khu đất thực tế tại Đà Lạt và Vĩnh Phúc. Sau 30 phút thử sức, các nhóm có cơ hội phản biện và thảo luận sôi nổi với bác Nguyễn Bá Hùng về tính hợp lý của từng hạng mục.

Workshop trải nghiệm đầy lý thú nhờ  những chi tiết thực tế bất ngờ, chẳng hạn như nước sông không thể sử dụng để tưới vì ô nhiễm đầu nguồn, đường vào của vật tư và đường ra của sản phẩm cần tách biệt để thuận tiện di chuyển và tránh nhiễm chéo theo tiêu chuẩn HACCP, hay việc đặt khu ủ phân ở ngay lối vào không còn là nguồn ô nhiễm mùi hôi nếu áp dụng phương pháp ống thông khí (aerated static pile composting). Người tham dự bước vào phiên thảo luận với chuyên gia trong không khí học hỏi vô cùng sôi nổi.

Các nhóm thử sức bố trí các cơ sở hạ tầng và phân khu thiết yếu trong phần Trải nghiệm thiết kế thực tiễn của workshop [Green Talk 07] TƯ DUY THIẾT KẾ TRANG TRẠI.

THẢO LUẬN: KHỞI NGHIỆP BẰNG TRANG TRẠI

Trên 25 anh chị đến tham dự chương trình đều có chung mối quan tâm với nông nghiệp, với những giá trị của nông nghiệp hữu cơ. TS. Nguyễn Bá Hùng với hơn 30 năm kinh nghiệm trong việc thiết lập, vận hành và tư vấn cho các trang trại đã hết lòng truyền tải những gì mình đúc kết được cho lớp trẻ. Với bác, để khởi nghiệp bằng trang trại nông nghiệp hữu cơ, có ba yếu tố tối quan trọng là thị trường, đầu vào, và tư duy cộng đồng.

Thị trường, đầu vào, và tư duy cộng đồng

Thị trường là yếu tố quyết định mức đầu tư và cách triển khai. Với bác, ai cũng có thể làm được nông nghiệp hữu cơ, miễn cái tâm mình không muốn bỏ hoá chất cho người ăn. Còn chứng nhận hữu cơ thì khi nào khách hàng yêu cầu, khi nào cần xuất khẩu, thì hẵng lấy. Đừng lấy cho nó oai vì mình sẽ phải tốn rất nhiều tiền của. 

Đầu vào có một nguyên tắc rất đơn giản là: “Đừng ham mua thuốc trừ sâu giá rẻ.” Thuốc trừ sâu trôi nổi kém chất lượng chắc chắn sẽ độc hại cho môi trường. Chúng ta cũng đừng vội san bằng một khu đất khi mới bắt đầu thiết lập trang trại. Những tầng cây chắn gió, vùng đệm sinh học, nếu muốn trồng lại phải mất 15 năm. Trong khi đó, bảo tồn các khu vực sẵn có sẽ nuôi dưỡng đa dạng sinh học, phát triển các loài thiên địch, làm giảm sức ép phải đấu tranh sinh học bằng hóa chất trong khu sản xuất.

Tư duy cộng đồng là cách duy nhất để nông nghiệp hữu cơ của mỗi cá nhân phát triển. Bác Hùng kể rằng, bác cũng đã từng có tham vọng làm bá chủ về rau hữu cơ, nhưng sau nhiều năm bác đã nhận thấy rằng không một đơn vị riêng lẻ nào có thể cung cấp đủ số lượng, đủ độ đa dạng sản phẩm, quanh năm. Cũng không có một đơn vị nào có thể làm tốt tất cả các khâu, từ cung cấp vật tư đến bán lẻ tới người dùng. Chỉ cần mình có mức lợi nhuận vừa phải, chúng ta cần bắt tay với nhau để mỗi người làm tốt thế mạnh của mình.

Người tham dự chăm chú lắng nghe những kinh nghiệm thực tế của TS. Nguyễn Bá Hùng.

Nguồn nhân lực ngành nông nghiệp

Bác Hùng kể chuyện vui rằng, học sinh từng hỏi: “Trong các loại côn trùng, bác Hùng sợ loài côn trùng nào nhất?” Đáp: “Bác sợ con có hai chân nhất.” Con mà có hai chân, hai tay làm mình rất là mệt. Chẳng hạn như mình chọn khu đất gần rừng để không lo nguy cơ ô nhiễm. Mình đã cẩn thận liên hệ với Sở Nông nghiệp, Phòng Địa chính để xin bản đồ quy hoạch của khu vực này trong vòng 25 năm. Vậy mà sau này dân cư họ vẫn vào ở, trồng bông, xịt thuốc. Nguy cơ ô nhiễm thì mình đâu có lấy chứng nhận hữu cơ được.

Đối với nhân lực địa phương, kinh nghiệm của bác là khi chúng ta có thể đảm bảo đầu ra để ổn định cuộc sống cho họ thì vận hành sẽ bền vững. Bác đã kiên nhẫn đào tạo từng chút một từ cách lái máy cày tới cách lên luống, tập thói quen rửa tay, lắp còi hụ để buộc người làm vườn phải nhớ đóng cửa ra vào, … Song song đó, tăng cường cơ giới hóa, tự động hóa trong các khâu như tưới tiêu, làm đất, thu hoạch, … là cần thiết để giảm rủi ro về nhân sự. Bác cũng khuyến khích các chủ trang trại mạnh dạn thuê chuyên viên trong và ngoài nước để tổ chức công việc tốt nhất, sau đó sẽ tập huấn dần cho các nhân viên khác.

Người tham dự cùng chụp hình lưu niệm sau chương trình [Green Talk 07] TƯ DUY THIẾT KẾ TRANG TRẠI.

Sự kiện[Green Talk 07] TƯ DUY THIẾT KẾ TRANG TRẠI đã cung cấp kiến thức nền tảng về tư duy thiết kế trang trại, cũng như các góc nhìn thực tế thông qua hoạt động trải nghiệm và phiên thảo luận. Một trang trại hoạt động hiệu quả, cũng như một phong trào hữu cơ thực sự bền vững tại Việt Nam cần sự chung tay và chia sẻ kiến thức, nguồn lực từ mọi thành viên của cộng đồng.

Để tiếp tục mang tri thức nông nghiệp đến với cộng đồng một cách sống động nhất, Green Edu sẽ tổ chức workshop [Green Talk 08] Từ Trang trại đến Bàn ăn tại một trang trại kết hợp sản xuất thực phẩm với dịch vụ giáo dục, đạt chứng nhận hữu cơ, tại Thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, vào ngày 04/10/2020. 


Green Talk là chuỗi sự kiện do đội ngũ VCA (Cộng sự Chuỗi giá trị) thuộc Green Edu tổ chức, nhằm thay đổi và nâng cao nhận thức của người trẻ về nông nghiệp. Đồng thời, chương trình cũng kết nối và chia sẻ kiến thức đến những người đam mê nông nghiệp.

Phát triển Rừng Đô thị ở các thành phố tiêu biểu trên thế giới

Phát triển Rừng Đô thị ở các thành phố tiêu biểu trên thế giới

Tiếp nối chủ đề về Rừng Đô thị (Urban Forest), Green Edu xin đăng tải bài viết của anh Đặng Thanh Hưng, giảng viên trường Đại học Kiến trúc TP.HCM, hiện làm nghiên cứu sinh tại Anh Quốc.

Nơi tôi đang ở cách xa Việt Nam hàng nghìn cây số. Nước Anh có khí hậu ôn hòa đặc trưng và biên độ nhiệt hàng năm rộng. Do ảnh hưởng biến đổi khí hậu, mùa hè ở đây đang nóng dần lên. Nếu phải ở nhà trong suốt mùa hè, đặc biệt như lúc này do dịch bệnh, thì đó là một mối nguy hiểm chết người. Sự sốc nhiệt thậm chí dẫn đến tỉ lệ tử vong cao ở người lớn tuổi. Người Anh đa phần là sợ nóng. Hoạt động lý tưởng vào mùa hè là ra đường hưởng gió mát và không khí trong lành. Mọi người ở đây ưa thích các hoạt động ngoài trời, gần gũi với thiên nhiên như cắm trại, chạy bộ, đạp xe, đi bộ ngắm chim, đi bộ đường dài, tắm nắng, đọc sách dưới tán cây, hay chơi ném dĩa trên bãi cỏ rộng lớn. Tham gia vào mọi hoạt động xã hội đó luôn có sự hiện diện của cây xanh hay không gian xanh.

Các thành phố ở Anh là sự bền bỉ của quá trình giữ gìn cái cũ cộng với sự dung hòa và mở rộng của những cái mới. Quanh khu đô thị cổ, những tòa nhà bằng đá và gạch cổ kính, chắc nịch quay ra các mặt đường, nối tiếp nhau tạo thành các ô phố. Phần mảng trống còn lại của đô thị được lắp đầy bằng hệ thống đường lát đá. Các block nhà ôm lấy những công viên và không gian công cộng xanh mướt, rì rào xen lẫn. Do khí hậu ôn hòa cộng thêm vỉa hè hẹp nên thường sẽ không trồng nhiều cây dọc theo các tuyến đường. Dù vậy, ở hai bên những con đường lớn, con đường cạnh mặt nước là hàng cây cổ thụ, tán rộng, thân xù xì chạy xa hút. Chúng làm cho đô thị bề thế, trần tục trở nên mềm mại và lãng mạn. Ngày nay, chính quyền thành phố xây dựng kế hoạch cụ thể trong việc quản lý, giữ gìn và phát triển mảng xanh cho cả khu vực đô thị mới và cũ. Chúng là thành phần tối quan trọng để xây nên không gian và môi trường thân thiện và bền vững cho người sử dụng bằng việc kết hợp với cây xanh với làn đi bộ, xe đạp, ghế nghỉ, và mặt nước.

Hàng cây xanh kết hợp làn xe đạp, vỉa hè cho người đi bộ, ghế nghỉ, làn xe cơ giới ở trung tâm London

Khác với vùng khí hậu ôn hòa, ở các nước/thành phố nhiệt đới, cây xanh là một mắt xích vô cùng quan trọng để duy trì hệ sinh thái tồn tại và sự cân bằng của môi trường sống dưới sự tác động của điều kiện khí hậu và sự biến đổi của nó ở hiện tại và trong tương lai, cho dù rằng khí hậu nhiệt đới là điều kiện tốt cho cây cối phát triển. Tuy nhiên, tỉ lệ và bố trí mảng xanh đang bị mất cân bằng ở nhiều đô thị lớn trong cuộc chiến phát triển kinh tế, mở rộng đô thị và gia tăng dân số. Ở Việt Nam, vấn đề đang xảy ra ở TP.HCM, Hà Nội, gần đây có Đà Lạt, Sa Pa. Hậu quả là nhiệt độ không khí tăng; môi trường gió, độ ẩm và lượng mưa thay đổi ở cả cấp độ khu và vĩ mô; mức độ giữ và thoát nước đô thị giảm; ngập lụt; hiệu ứng nhà kính; ô nhiễm không khí; và tỉ lệ tự vong tăng. Tuy nhiên, việc xanh hóa hay rừng hóa đô thị không diễn ra ở đây mà còn theo chiều hướng tồi tệ hơn.

Theo thống kê của The Gobal Forest Change ở 162 thành phố (2010-2016), mật độ tán cây theo đầu người ở TP.HCM được đánh giá 65 điểm (khá), ngang ngửa Paris. Trong khi ở London và Singapore, con số này đạt gần 100 điểm. Tiên chuẩn thấp nhất dùng để so sánh là 15m2/người. Có hai điều để nói về số liệu trên. Thứ nhất, phương pháp đo đạc và dữ liệu (Treepedia, Global Forest Change Dataset, Google Street View images) đã bao gồm tất cả loại diện tích xanh được tìm thấy trên bề mặt đô thị (vỉa hè, công viên, quỹ xanh dự trữ, vùng chưa qui hoạch). Vì vậy, số điểm không phản ánh chính xác diện tích tán cây/người so với phần diện tích xây dựng của đô thị (650km2). Thống kê 2010 của UBND TP.HCM, diện tích mảng xanh của thành phố là 270ha (209 công viên), tăng lên 491ha (369 công viên) vào năm 2018. Diện tích xanh/người chỉ đạt 0.7m2/người. Tuy nhiên, xét đến số lượng cây và độ phủ tán thực tế còn thấp hơn thế. Năm 2010, tổng số cây xanh ở thành phố là 43.000 và đến năm 2018, con số này tăng thêm 59.000 cây. Thứ hai, trong hệ sinh thái, cây xanh lâu năm mới đem lại giá trị thực sự. Theo TS Lưu Đức Cường (2018), dù số lượng cây xanh và mảng xanh có tăng gần đây, nhưng so với năm 1998, diện tích xanh của thành phố đã giảm 50%, chưa kể sự mất mát của nhiều cây lâu năm.

Các nghiên cứu cho thấy cây xanh đem lại 3 giá trị to lớn cho một đô thị: kinh tế, môi trường, và xã hội. Việc tăng cường cây xanh sẽ làm cho đô thị trở nên xanh hơn, sạch hơn, sống động hơn và khả năng phục hồi trước biến đổi khí hậu, đô thị hóa và tăng dân số nhanh hơn.

London – thủ phủ của nước Anh rộng 1.572 km2, dân số hơn 9.3 triệu. Nước láng giềng với Việt Nam là Singapore có diện tích 721km2 và dân số 6 triệu. Cả hai thành phố được xếp vào loại đô thị lớn, mật độ cao. Đây cũng là hai trong nhiều thành phố trên thế giới đang định hướng mô hình Đô thị rừng hay Rừng trong đô thị. Hiển nhiên, cây xanh đóng vai trò bắt buộc trong mô hình này. Toàn diện tích London được bao phủ bởi 14% diện tích cây xanh và 21% diện tích tán lá. Trong khi đó, ở Singapore, tỉ lệ này là 30% (theo thống kê năm 2018). Đối chiếu với TP.HCM, diện tích cây xanh chiếm tỉ lệ nhỏ, chỉ 1%. Cây xanh ở Singapore được quản lý bởi tổ chức National Parks. Ở London, cây xanh được đồng quản lý bởi Thị trưởng London, Nhà chức trách của Greater London và Tổ chức London Urban Forest. Trong khi ở Việt Nam, cây xanh và cảnh quan xanh đang được quản lý không tập trung và chồng chéo.

Bản đồ cập nhật vị trí, thông tin của từng cây xanh ở London (Nguồn: https://maps.london.gov.uk/trees/)

Giá trị của cây xanh với kinh tế vĩ mô được tính bằng sự đóng góp của chúng lên chất lượng không khí đô thị (giảm ô nhiễm, tiếng ồn; hấp thụ CO2; cô lập CO2; cung cấp oxy); giữ nước mưa; củng cố nền đô thị; điều tiết khí hậu; tăng tiện nghi cho đời sống đô thị; giảm năng lượng sử dụng trong công trình và giảm phát thải carbon từ công trình. Tất cả những lợi ích này đều được qui thành tiền. Một cây xanh 50 tuổi đem đến giá trị kinh tế khoảng 11 ngàn USD/năm, sau khi trừ đi chi phí cây giống, chăm sóc, bảo trì, thay thế, quản lý còn 4 ngàn USD/năm (nghiên cứu của London). Độ tuổi cây càng lớn, giá trị càng tăng. Ví dụ, một cây 100 tuổi sẽ có giá trị gấp 4 lần cây 50 tuổi còn cây 200 tuổi sẽ cho giá trị gấp 20-40 lần. Nếu được chăm sóc tốt thì lợi ích của một cây xanh trong đô thị có thể kéo dài ít nhất 260 năm. Theo thống kê của tổ chức London Urban Forest, toàn hệ thống xanh của thành phố đã đem về giá trị kinh tế đạt 175 triệu USD, giảm 2.241 tấn khí thải các loại vào năm 2015. Dựa trên, giá trị kinh tế, môi trường, con người dài hạn mà cây xanh đem lại, kim chỉ nam để phát triển hệ thống xanh là giữ gìn cây lâu năm, thay thế cây hư, và trồng thêm cây.

Bảng thống kê số lượng cây xanh và giá trị kinh tế và môi trường của chúng ở London trong năm 2015
(Nguồn: London Urban Forest, 2015)

Cây xanh trong đô thị được chia làm hai nhóm: cây trên vỉa hè và cây trong công viên/không gian công cộng. Theo báo cáo năm 2015, London hiện có 8.4 triệu cây xanh, trong đó 900.000 cây trên vỉa hè. Diện tích cây xanh trên đầu người là 16m2. Trong khi đó, ở Singapore, tổng số cây xanh năm 2015 là 7 triệu, bao gồm 50.000 cây xanh trên vỉa hè nên tính trung bình là 7.5m2/người. Để đảm bảo hệ thống xanh khổng lồ được “quang hợp” tốt cho lợi ích chung cho cả một đô thị dĩ nhiên rằng chính quyền thành phố cần đến một nguồn kinh phí lớn. Singapore đang phải chi 235 triệu SGD/năm còn với London, con số đó là 6 tỉ USD/năm. Tổng chi phí bao gồm cây, công tác trồng, bảo dưỡng, thay thế, di dời, nhân sự, quản lý. Mặc dù, chi phí hàng năm cho cây xanh không nhỏ, nhưng giá trị của chúng mới là điều đáng quan tâm vì sự tồn vong hệ sinh thái đô thị và con người. Chính quyền London đang đi sát chỉ tiêu 10.000 cây mới/năm (thực đạt 9.500 cây). Ở Singapore, chính phủ đặt mục tiêu 40.000 cây/năm. Ở TP.HCM, con số đó dao động 1500-4500 cây mới/năm.

Khác với cây trong công viên, có thể trồng hẳn xuống đất tự nhiên. Nhưng với cây vỉa hè sẽ có nhiều khó khăn hơn vì ảnh hưởng đến chất lượng đường giao thông, vỉa hè, và hệ thống kỹ thuật. Vì vậy, cây xanh trên vỉa hè ở Singapore và London được chia làm hai loại: Một là hiện hữu đã trồng lâu trước đó theo phương pháp truyền thống. Hai là được trồng theo kỹ thuật mới RootSpace System (RSS). Ở London, những cây trồng mới đều theo phương pháp RSS vì sự an toàn cho hệ thống khác trên đường; chi phí trồng, bảo trì, di dời đều thấp; độ cứng cáp cao; trong khi lợi ích mang lại cao hơn vài chục lần. Tuy nhiên không vì vậy mà cây hiện hữu đều bị đốn bỏ vì giá trị lâu năm sẵn có của chúng. Chúng vẫn được giữ gìn, quản lý và giám sát nghiêm ngặt bằng kỹ thuật lâm nghiệp, cảnh quan và kỹ thuật cao. Các cây trên vỉa hè và công viên ở London và Singapore đều được mã hóa. Việc trồng mới cũng đi kèm với bảo dưỡng hay di dời để phát triển hạ tầng đô thị. Singapore đã lên kế hoạch di dời 13.000 cây trong 15 năm tới. Năm 2015, Singapore đã tiến hành di dời 8 cây cổ thụ 40 năm tuổi ở khu vực Civic District sang bãi cỏ phía trước Nhà hát Victoria, mỗi cây nặng 90 tấn. Tất cả gốc, thân, cành, tán lá được giữ nguyên (xem link tham khảo ở cuối bài).

Cây xanh trên vỉa hè được trồng theo kỹ thuật RootSpace System  
(Nguồn: https://www.greenblue.com/es/soil-compaction-what-it-means-for-urban-trees/)

Ở xứ nhiệt đời, mưa bão quanh năm có thể làm cây ngã đổ, hư hại. Tuy nhiên, sự ứng xử trước và sau các vấn đề đó là quan trọng để không tổn hại đến sự sinh trưởng của cây, duy trì lợi ích chung cũng như không gây nguy hiểm tính mạng con người. Đầu tiên là chọn cây thích hợp, kỹ thuật trồng và bảo dưỡng đúng phương pháp, kiểm tra định kỳ, có giải pháp hợp lý trong từng điều kiện thời tiết. Cây con đều có lồng bao bọc hay khung đỡ để chống ngã đổ. Cây lâu năm cần được kiểm tra, cắt tỉa định kỳ và có khung đỡ nếu bị nghiêng lệch. Trong trường hợp cây ngã đổ sau mưa giông mạnh, cần có việc đánh giá tai nạn, làm gọn hiện trường, hoặc có giải pháp trồng thay thế. Dọc đường xe hơi ở công viên Taiping Lake Garden (Malaysia) có một hàng cây lim sẹt cổ thụ trăm năm, tán và cành vươn xa vài chục mét mỗi bên đến tận hồ. Do tải trọng cây nặng, tán rộng, nó đã ngã lệch sang một bên sau trận mưa. Nhưng không vì thế mà nó bị cưa gọn hay đốn bỏ. Giải pháp được đưa ra là giữ nguyên hiện trạng bằng khung gia cố.

Cây bị ngã và được gia cố, gìn giữ tiếp tục sau cơn mưa giông tại Taiping Lake Gardens (Nguồn: Sylvia Looi, 2018)

Lợi ích dài hạn của cây xanh luôn được ưu tiên cho sự sống còn của hệ sinh thái đô thị, đặc biệt là con người. Một cây xanh phải mất 50 năm mới có thể đóng góp 20% lợi ích. Vì vậy, để đảm bảo hệ thống cây xanh phát triển tốt, đem lại giá trị cao, giảm chi phí thì tại mọi mắt xích đều phải chú ý: giống cây phù hợp khí hậu và vị trí trồng (vỉa hè hay công viên); độ cao và phủ tán của cây; khả năng sinh trưởng; chế độ theo mùa; công chăm sóc và bảo dưỡng; giá trị với môi trường và kinh tế; hướng dẫn lâm nghiệp; mối liên hệ với các hệ thống khác như qui hoạch, xây dựng, và môi trường.

Trong bộ hướng dẫn Sustainable Landscape (đính kèm phần tham khảo), cây xanh trên vỉa hè đều phải trồng trên dãy xanh rộng 3m, ô đất trồng 2x2m. Với cây thân gỗ, tán rộng, bề rộng dãy xanh yêu cầu tối thiểu 4m. Khoảng cách giữa tim thân cây và tim đường đi bộ ít nhất 5m. Để đảm bảo an toàn cho công trình xây dựng, hệ thống hạ tầng, xem xét giống cây, bộ rễ và tán cây là rất quan trọng. Bộ rễ cây luôn được đặt thấp hơn lớp cấu tạo của vỉa hè và đường xe cơ giới để cho rễ cây phát triển bình thường, đạt độ cứng cáp chống chọi tốt trước gió bão. Ngoài ra, thiết kế vỉa hè phải có khả năng thấm nước mưa cao. Cả cây lấy tán, cây bụi, cỏ và vỉa hè tạo thành hệ thống sinh học giữ nước cho toàn đô thị để tráng xảy ra tình trạng ngập lụt trong thành phố.

Sự đa dạng sinh học của thảm thực vật đô thịt là quan trọng vì sức khỏe của toàn bộ hệ thống xanh, bên cạnh giá trị tinh thần cho con người; môi trường, cảnh quan đô thị; sự cộng sinh hệ thực vật và động vật. Singapore là một ví dụ điển hình cho điều này. Ví dụ, Singapore có 10 giống cây phổ biến được trồng trong đô thị, trong đó có Xà cừ, Lim sẹt, Gụ, Angsana, Long não, Muồng tím là những cây được trồng nhiều nhất trên các vỉa hè (xem thêm thông tin tham khảo bên dưới). Độ tuổi của cây trồng rất rộng. Bên dưới những tán cây lâu đời vươn đến vài chục mét là tầng lớp cây trẻ hơn, cây bụi, dây leo, hoa và cỏ. Sự bền bỉ, tốn ít công và chi phí chăm sóc, sự đa dạng sinh học của hệ thống cây xanh là mục tiêu quan trọng xây dựng mô hình Đô thị rừng.

Sự đa dạng sinh học của hệ thực vật đô thị Singapore (nguồn: Fisher-Y)

Ở một xã hội phát triển như Singapore hay London, ý nghĩa của cây xanh và thiên nhiên được giáo dục và gây dựng một cách có hệ thống dựa trên các nguyên tắc để đúc kết thành sự cộng sinh giữa con người và thiên nhiên trong đô thị và khu vực hoang dã. Chính quyền thành phố nhận thức đầy đủ giá trị của cây xanh lên nền kinh tế vĩ mô; cảnh quan và hệ sinh thái vững chắc của đô thị; môi trường sống; sức khỏe và tinh thần của con người. Từ nhận thức được xác định ở cấp cao nhất, hàng loạt nghiên cứu và thống kê về chủng cây xanh, hệ thống phân loại, tác dụng, phương pháp trồng, bảo dưỡng, và chi phí đang được thực hiện theo vùng và thời gian biểu. Ngoài ra, các tiêu chuẩn và hướng dẫn trong việc gieo trồng, chăm sóc, di dời cũng được ban hành cho việc thực thi hiệu quả, đúng kỹ thuật và an toàn. Bên cạnh là sự hỗ trợ các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, tư nhân về thiết kế, xây dựng, tư vấn, qui hoạch cảnh quan đô thị. Trong khi đó, ở phân cấp hệ thống xã hội thấp nhất, trẻ em và người lớn được giáo dục để có nhận thức và xây dựng tình yêu với cây xanh và thiên nhiên. Ba đối tượng cùng tham gia và đồng hành để xây dựng hệ sinh thái xanh của đô thị và hơn hết cho sự sống của họ thông qua tình yêu và lý trí của từng con người với thiên nhiên; sự đầy đủ và hiệu quả của các qui định, hướng dẫn kỹ thuật, hệ thống pháp lý, kế hoạch dài hạn; và sự vận hành minh bạch, tận tâm, nghiêm túc của chính quyền thành phố.

Ở nước Anh, chương trình của chính phủ đề trồng thêm cây xanh diễn ra hàng năm. Nguồn kinh phí cũng được sử dụng cho khoa học và mang đến những dự án cộng đồng, giải thưởng cho từng cá nhân hay tập thể đóng góp xây dựng đô thị xanh. Các hoạt động đều có sự tham gia của nhiều tầng lớp, độ tuổi, nghề nghiệp. Từ đó, tình yêu thiên nhiên được xây dựng (Nguồn: https://www.london.gov.uk/what-we-do/environment/parks-green-spaces-and-biodiversity/greener-city-fund/community-tree-planting-grants-2019-20

Các con số luôn biết nói và chúng tham gia vào sự hoạch định chiến lược của đô thị. Các tiêu chuẩn thiết kế cảnh quan và chiến lược đô thị ở Việt Nam vẫn còn quá nhiều thiếu sót. Có vẻ như, chúng ta không thực sự có định hướng rõ ràng, hiệu quả và quyết liệt. Chúng ta cũng đang không tìm thấy sự tham gia và kết hợp bền chặt của ba đối tượng trên để kiến tạo nên một hệ sinh thái xanh bền vững của đô thị. Con số thì phải có nhưng quan trọng là ý nghĩa và giá trị của chúng. Trên cả các con số, yếu tố tâm linh như sự gắn kết giữa con người với thiên nhiên cũng rất quan trọng, nhất là với nền văn hóa lâu đời ở nước ta. Sự đứt gãy liên kết như một ngôi nhà không có móng. Trồng một cái cây tốt cũng như nuôi một con người tốt. Với các đô thị Việt Nam, rất cần xây dựng lại mục tiêu; mô hình và viễn cảnh mô hình đó; sau đó cần có sách lược hiệu quả, phù hợp; công cụ bắt buộc để vận hành bao gồm con người, tài chính, khoa học. Khi mục tiêu đã có, sách lược đã đúng, công cụ phù hợp, vấn đề còn lại là thời gian và niềm tin.

Tham khảo:

1. Báo cáo, hướng dẫn kỹ thuật xây dựng cảnh quan ở Singapore:

https://www.nparks.gov.sg/activities/family-time-with-nature/recommended-activities/know-10-trees

https://www.nparks.gov.sg/-/media/cuge/ebook/sustainable-landscape/sustainable-landscape.pdf

https://rainforests.mongabay.com/deforestation/archive/Singapore.htm

2. Di dời/xử lý các vấn đề với cây xanh ở Singapore:

https://www.straitstimes.com/singapore/replacing-lost-trees#:~:text=Singapore%20has%20about%20seven%20million,in%20areas%20managed%20by%20NParks

https://www.straitstimes.com/singapore/transplanting-massive-rain-trees-as-part-of-civic-district-rejuventation

https://www.youtube.com/watch?v=A6yRo_jV_CU

https://www.greening.gov.hk/filemanager/content/pdf/tree_care/Guidelines_on_Tree_Transplanting_e.pdf

https://www.straitstimes.com/singapore/tree-falls-on-car-along-scotts-road-in-front-of-grand-hyatt-hotel?fbclid=IwAR1OufD7r40oQNg54EyGjgl6YtGhq67mMCjtcVHD7wXsbR59bXt9UKtVkow

3. Lợi ích của cây xanh trong đô thị:

https://www.researchgate.net/publication/318225716_Benefits_of_trees_in_tropical_cities

https://www.researchgate.net/publication/260639367_Plants_in_Tropical_Cities

https://www.legco.gov.hk/research-publications/english/essentials-1415ise05-tree-management-in-singapore-and-tokyo.htm

https://www.quora.com/How-much-does-Singapore-spend-to-maintain-all-the-trees-on-the-island

4. Báo cáo xây dựng đô thị rừng của London 2015:

https://www.treeconomics.co.uk/wp-content/uploads/2018/08/London-i-Tree-Report.pdf

https://www.treeconomics.co.uk/wp-content/uploads/2018/08/GBU_Street-Tree-Cost-Benefit-Analysis-2018.pdf

5. Bài báo qui hoạch cây xanh ở TP.HCM:

https://sggpnews.org.vn/hochiminhcity/green-cover-area-reduces-50-percent-in-hcmc-78796.html

https://haiquanonline.com.vn/tphcm-ty-le-dien-tich-cay-xanh-chi-dat-8-109831.html

6. Bản đồ cây đô thị ở Singapore và London:

https://www.nparks.gov.sg/trees

https://www.london.gov.uk/what-we-do/environment/parks-green-spaces-and-biodiversity/trees-and-woodlands/london-tree-map

https://maps.london.gov.uk/trees/

7. Giải pháp trồng cây trên vỉa hè trồng theo kỹ thuật RootSpace System:

https://www.topiodomi.gr/en/products/greenblueurban/?id=27&fbclid=IwAR1OufD7r40oQNg54EyGjgl6YtGhq67mMCjtcVHD7wXsbR59bXt9UKtVkow

https://greenblue.com/gb/about-us/

CHẠY VÀ MƠ VỀ MÀU XANH

CHẠY VÀ MƠ VỀ MÀU XANH

Theo triết lý sống của mình, một quốc gia mạnh là quốc gia có tiềm lực sản xuất tốt từ những thứ cơ bản nhất như rau củ quả, thịt, cá. Bởi đó những nhu yếu phẩm của con người, không có ăn thì không thể sống, nên một quốc gia muốn giàu mạnh thì phải bắt đầu từ việc đảm bảo cho dân mình được ăn sạch sống khỏe. Mình luôn thắc mắc tại sao nước ta có tiềm năng phát triển nông nghiệp lớn như thế, có nhiều điều kiện địa lý độc đáo được thiên nhiên ưu đãi hơn rất nhiều quốc gia khác, lực lượng lao động tại nông thôn vẫn chiếm phần đông đảo nhất, vậy mà vẫn phải ăn những thực phẩm đầy chất hóa học, muốn ăn ngon thì toàn phải nhập hàng ngoại về. Tại sao nguồn nhân lực, nguồn thông tin của nông nghiệp – ngành mũi nhọn của nước mình lại thiếu thốn đủ bề. Tại sao những mâu thuẫn, những bất công này xảy ra ở ngay giữa một vùng đất có đồng vàng, biển bạc. 

À, ra là năng suất lao động còn kém, do phần lớn nông dân còn chưa qua đào tạo, do khoảng cách giữa đời sống thành thị và nông thôn còn khắc nghiệt, vì thế mà nền nông nghiệp Việt cứ được duy trì theo kiểu cũ, với vốn kiến thức không được cập nhật của người nông dân. Sau khi nghiên cứu thêm các thông tin về tình trạng biến đổi khí hậu, mình còn biết được rằng những hành động canh tác chưa đúng đã làm cho nền nông nghiệp gây ra những tác động ngày càng trầm trọng đối với môi trường, với sinh kế của người nông dân. 

Năm ba đại học, mình bắt đầu dấn thân vào nông nghiệp để biết được liệu mình có thích nông nghiệp thật hay không. Vốn là sinh viên kinh tế, bạn bè xung quanh cũng khó mà tìm được người có cùng chí hướng, mình lẳng lặng tìm những quyển sách về nông nghiệp để đọc, như quyển “Quả táo thần kỳ của Kimura” – mình biết được nông nghiệp hữu cơ chỉ đơn giản là bắt nguồn từ tình thương của người nông dân với người vợ bị dị ứng với thuốc trừ sâu của mình, hay quyển “Cuộc cách mạng một cọng rơm” –  mình thấy được lòng tin mãnh liệt, mạnh mẽ vào triết lý sống thuận tự nhiên của tác giả. Rồi mình tham gia vào các hội nhóm về nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, khởi nghiệp nông nghiệp trên Facebook, mình thích mê khi thấy những khu vườn, những trang trại rộng hàng hectare được canh tác theo tiêu chuẩn sạch, những câu chuyện khởi nghiệp, theo đuổi nông nghiệp đầy mồ hôi, vất vả mà các anh chị nông dân thế hệ mới chia sẻ.

Rồi mình đi nhiều hơn, mình vừa học vừa làm, để dành tiền để đi, càng đi đến nhiều vùng đất, mình càng thấy yêu đất nước Việt Nam hơn, những cảnh đẹp trùng điệp mở ra trước mắt mình, với màu xanh của rừng, màu vàng của lúa, màu đỏ của những bụi hồng mọc dại, màu trắng mờ đục của buổi sương sớm, tất cả những sắc màu đó đi từ mắt vào tim, càng ngắm càng yêu, càng muốn bảo vệ và gìn giữ. Vì thế mà tình yêu cho ruộng lúa, cho cánh rừng của mình ngày càng to lớn.

Năm ba đại học, mình về Vĩnh Long để đi Mùa Hè Xanh với các bạn cùng khoa, và mình đã có những trải nghiệm dễ thương “nhớ đời”. Trên chiếc xe đạp lộc cộc, bạn đèo mình đến quán nước mía đầu “lộ” để hỏi han người dân về mấy nhà vườn địa phương, tìm hiểu thông tin cho dự án sàn thương mại điện tử nông sản mà nhóm mình làm. Men theo con đường đất đỏ được điểm tô bởi những lũy tre già, mình tìm đến ruộng dưa được chỉ, thích thú quan sát cảnh người dân thu hoạch dưa. Trò chuyện với chị chủ ruộng, mình thấy được những bất cập trong việc liên kết thông tin bị đứt quãng qua nhiều kênh, cũng như là những nỗi vất vả của người nông dân lúc thời tiết thất thường, hay là cái giá mua quá thấp từ thương lái. Cả người trồng, người mua và thậm chí là người bán đều chịu thiệt thòi, tại sao chúng ta lại “khó sống” với nông sản như vậy.

Ước mơ về một nền nông nghiệp sạch hơn, phát triển hơn, tiến bộ hơn thôi thúc mình đi tìm những thông tin về nông nghiệp để đọc, để cảm. Nghe những chia sẻ vừa vui vừa buồn của những người khởi sự làm nông, thấy lòng đầy hi vọng, mặc dù cũng có một chút lo lắng vì chuyên ngành mình học liên quan chủ yếu đến công nghệ thông tin chứ không dính dáng gì đến nông nghiệp.

Rồi sau đó, bằng tất cả những hy vọng, mình viết lá đơn xin việc tiếng Anh đầu tiên gửi vào Green Edu, và cố gắng trả lời thật tốt các câu hỏi trong form tuyển dụng, sau nhiều ngày lên xuống văn phòng xanh, với cái tên thật dễ thương là Dế Mèn Hub, cuối cùng, mình đã thật tự hào khi được nói “Tôi là Cộng sự chuỗi giá trị đến từ Green Edu.”

Và cũng không dễ.

Thật không dễ dàng để mình có thể nói được câu đó. Chặng đường làm thực tập sinh của mình là một chuỗi ngày chìm trong training và… làm việc lặt vặt. Là thành viên non trẻ nhất team, lại không có nhiều kinh nghiệm hoạt động ở “mặt trận” đại học, so với các anh chị đồng nghiệp giỏi giang, mình còn nhiều thiếu sót quá, nhiều lúc mình tự ti về chính năng lực bản thân. Thế nhưng, với lời tự hứa là sẽ cố gắng học tập, làm việc hết mình để nâng cao năng lực, cố gắng phát huy tối đa tiềm năng mình có, để mai này chết đi không tiếc nuối. Mình đã nỗ lực thật nhiều, cố gắng học và hành, mở mắt mở tai ra để quan sát, lắng nghe, học hỏi từ nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống.

Mình nhìn màu xanh nông nghiệp Việt với cả hai góc nhìn, một bên là tiêu cực, và một bên là tích cực. Tiêu cực bởi vì không biết hằng ngày, ba má mình thực sự đang ăn cái gì để sống, đó liệu là thịt cá rau củ, hay liệu chỉ là một dạng “tiến hóa” khác của hóa chất. Tiêu cực bởi vì nỗi lo về biến đổi khí hậu đang diễn ra ngay trước mắt mình và môi trường đang bị ảnh hưởng ngày càng nặng nề hơn, lo lắng cho đời sống, sinh kế bà con đồng bằng sông Mê Kông, của những người yếu thế. May mắn thay, tương lai nông nghiệp Việt vẫn còn đầy hứa hẹn. Tham gia vào các group về nông nghiệp trên Facebook, đi tham quan các hội chợ triển lãm ngành nông, mình thấy được nhiều câu chuyện người thật việc thật. Thấy được làn sóng canh tác sạch và xanh đang được lan tỏa và hưởng ứng mạnh mẽ. Thấy được mồ hôi và nước mắt của những người nông dân thế hệ cũ và mới. Quan trọng hơn hết, mình thấy được trăn trở của mình cũng là trăn trở của rất nhiều người khác, và mỗi một người đều đang chung tay để làm nên điều gì đó có ích cho cây rau, ngọn cỏ của nước Nam.

Giấc mơ của mình là được cộng tác, được làm, được đi. Muốn đi xa thì phải đi cùng nhau, mình không thể làm gì lớn nếu chỉ khư khư một mình. Thật may mắn khi vào Green Edu, mình đã có thật nhiều cơ hội để cộng tác, làm việc nhóm. Mình được hòa nhập vào văn hóa ba miền Bắc Trung Nam, thích thú với những sự khác biệt, mặc dù đôi lần cũng bối rối. Với văn hóa học tập, văn hóa kết nối được chú trọng duy trì ở Green Edu, mình đã tự hào khi đang dần trở thành một phiên bản tốt hơn như mình mong muốn. Cho dù mùa dịch Covid lắm khó khăn thì những dự án vì cộng đồng vẫn chạy, những deadline vẫn được đặt ra, những buổi đào tạo kiến thức, kỹ năng cứng và mềm, những vòng tròn kết nối đồng đội đều được duy trì hàng tuần. Những công việc cứ chạy, những trở ngại cứ đến, nhưng tụi mình thì cứ bước đi thôi, cứ gieo một hạt giống trong tâm mình, chăm sóc nó cẩn thận. Đến một ngày, nó sẽ trở thành mầm xanh, rồi đơm bông, kết trái. 

 

Ảnh & bài viết: VCA Uyên Phạm

 

 

 

 

 

 

IoT sẽ thay đổi cách kho hàng nông sản vận hành thế nào trong tương lai?

IoT sẽ thay đổi cách kho hàng nông sản vận hành thế nào trong tương lai?

Internet vạn vật (Internet of Things – IoT) là công nghệ đóng vai trò quan trọng với các hệ thống vận hành của tương lai, trong đó kho hàng nông sản không phải ngoại lệ. Bằng cách áp dụng IoT trong xử lý sau thu hoạch, các kho nông sản sẽ được quản lý trên cơ sở dữ liệu thời gian thực với hàng hóa, thiết bị vận hành cũng như đồng bộ với toàn bộ chuỗi cung ứng góp phần tăng năng suất vận hành và giảm thiểu chi phí.

IoT và những thay đổi trong hoạt động kho

Trong các hệ thống kho hàng thông minh (smart warehouse), IoT cung cấp dữ liệu thời gian thực về tình trạng kho để các chuyên viên có thể phân tích và sử dụng chúng trong vận hành tối ưu hóa, hợp lý hóa và cải thiện độ chính xác dự báo hàng hóa.

Một hệ thống IoT bao gồm cảm biến để theo dõi và đo lường hoạt động cũng như tình trạng hàng hóa, nền tảng IoT để thu thập và xử lý dữ liệu thông qua các giao thức và cấu trúc mạng trước khi đi ra tầng ứng dụng như các báo cáo, bộ xử lý tự động hóa của thiết bị.

IoT phục vụ bản chất cơ bản của quản lý kho là quản lý chi tiết. Ngày nay, tính chính xác trong từng chi tiết của quản lý hàng tồn kho rất được lưu tâm. Với sự phát triển của các kênh bán hàng trực tuyến theo mô hình B2C (business to consumer), người tiêu dùng cần thông tin chính xác liên quan đến tình trạng và tính sẵn có của các mặt hàng. Điều này có tầm quan trọng chiến lược với các hệ thống kho hàng trong tương lai khi không chỉ để chứa hàng mà đáp ứng kịp thời với nhu cầu hàng hóa ở những cấp độ khác nhau. 

Chất lượng nông sản được quản lý số hóa, bằng thời gian thực

Phần lớn nông sản đến với người tiêu dùng thông qua việc lưu kho hàng tháng trời. Do đó việc giữ được chất lượng nông sản sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại và lãng phí. Các điều kiện quản trị kho bãi do đó có mục đích đảm bảo chất lượng nông sản ở mức cao nhất. Khi các chỉ số nhiệt độ, độ ẩm, nồng độ CO2 có thể đo lường trong môi trường bảo quản, nhà sản xuất có thể hành động kịp thời; đặc biệt với hàng nông sản – loại hàng dễ hư hỏng và chứa đựng rủi ro cao. Các hệ thống cảm biến (sensor) được tích hợp sẽ quản lý các yếu tố này. Chọn cảm biến nào sẽ phụ thuộc vào loại thông tin bạn thu thập và mục đích mà giải pháp hướng tới, ví dụ kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm hoặc truy xuất nguồn gốc. Chất lượng cảm biến có thể ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm – quy định dữ liệu có chính xác không và khả năng cập nhật thời gian thực (real-time) trên các hệ thống bảng điều khiển (dashboard).

Hệ thống quản lý nhiệt độ theo dõi tín hiệu truyền về từ sensor. Nguồn: flukeprocessinginstruments.com

Áp dụng tự động hóa vào các hoạt động xếp dỡ, quản lý hàng 

Autonomous guided vehicle (AGV) hay còn gọi xe tự lái đang được sử dụng ở các hệ thống kho lớn như Amazon với 45,000 thiết bị nhưng trong tương lai, thậm chí các doanh nghiệp nhỏ cũng sử dụng hệ thống này, thay vì xe nâng truyền thống. AGV hỗ trợ nâng cao vận hành kho bãi bao gồm tăng năng suất và độ an toàn trong hoạt động vận chuyển và xếp dỡ, điều quan trọng trong xử lý hàng nhanh hư hỏng như nông sản. Các xe này hoạt động với tốc độ ổn định, tiết kiệm thời gian xử lý hàng, bên cạnh việc có thể hoạt động với cường độ cao (có thể chạy 24/7 khi cần). Hiện nay, nhiều thiết bị được lập trình như những “trợ lý ảo” có thể hiểu ngôn ngữ con người và phát hiện những vấn đề trong hoạt động để cung cấp phản hồi cho nhân viên, cả tích cực lẫn tiêu cực. 

Theo Grand Vew Research, thị trường toàn cầu cho xe AGV dự kiến tăng 15.8% từ năm 2019 đến 2025. Còn theo Cyzerg, việc đầu tư vào AGV cho các hệ thống kho hiện nay có thể thực hiện trong 3-5 năm nữa; khi công nghệ này trở nên được ưa chuộng và cạnh tranh hơn. Việc này sẽ giúp nhà quản lý giảm đi đáng kể chi phí thuê nhân công, đồng thời tạo những cuộc cách mạng nhất định trong thị trường việc làm tại kho. Ngoài ra, drone (thiết bị bay không người lái) cũng là một thành tựu đáng chú ý trong những năm tới, khi thiết bị này có thể hỗ trợ trong việc sắp xếp và kiểm đếm tồn kho một cách nhanh chóng.

Thiết bị xe tự lái hoạt động trong kho. Nguồn: prmitteilung.de

Đồng bộ với chuỗi cung ứng

Trong tương lai, vận hành kho hàng được kỳ vọng đồng bộ hóa mạnh mẽ với các hoạt động khác trong chuỗi cung ứng. Một hệ thống quản lý đồng bộ (end-to-end) sẽ giúp đảm bảo chất lượng từ vùng trồng đến các kênh tiêu thụ, qua đó giúp nông sản tăng thêm giá trị đầu ra, bên cạnh việc giúp nhà quản lý có cái nhìn toàn diện về chuỗi cung ứng. Tích hợp với công nghệ như RFID để kết nối với điện toán đám mây và chia sẻ dữ liệu, các hệ thống quản lý kho hàng (Warehouse Management System – WMS) có cơ sở xử lý hàng khi hàng thậm chí chưa đến kho, quyết định hàng được phân loại thế nào, bổ sung tồn kho (replenishment) hay cross-docking cũng như rút ngắn thời gian xử lý các hoạt động giao nhận với phương tiện như kiểm đếm, xếp hàng. Luồng thông tin ở đây đóng vai trò quan trọng đặc biệt với khách hàng qua các kênh thương mại điện tử khi các thẻ RFID sẽ hỗ trợ theo dõi đơn hàng từ khi xuất kho. 

Với xu hướng phát triển thành các trung tâm phân phối trong tương lai, các kho hàng sẽ không đơn thuần chỉ là nơi xử lý hàng mà có vai trò điều tiết phân phối, quyết định luồng hàng trì hoãn hay đẩy nhanh. Với thông tin hàng hóa cập nhật liên tục qua các hệ thống IoT, việc phân tích dữ liệu là cơ sở để các kênh thị trường quyết định nhập hàng hay không. 

Nền tảng quản lý kho hàng của công ty Smartlog (Việt Nam), một doanh nghiệp tiên phong về cung cấp giải pháp logistics trên nền tảng số. Nguồn: gosmartlog.com

Lời kết

Hoạt động kho hàng đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng hàng nông sản. Một hệ thống IoT vận hành tốt sẽ tạo ra những dashboard kịp thời với chức năng phân tích và hỗ trợ đưa ra giải pháp trong vận hành, chiến lược. Các hoạt động của kho hàng sẽ được quản lý từ xa và giảm đi những chi phí dành cho nguồn lực vận hành.

Hiện nay ở Việt Nam,  việc áp dụng các thiết bị IoT trong hệ thống kho hàng nói chung và kho nông sản nói riêng còn hạn chế do giá thành cao và năng lực ứng dụng của các doanh nghiệp còn thấp. Bên cạnh đó, phần lớn các thiết bị IoT là nhập khẩu từ nước ngoài, chưa được việt hóa để phổ biến rộng rãi đòi hỏi các nhà cung cấp trong nước cần nỗ lực nghiên cứu và phát triển, đưa công nghệ này rộng rãi vào sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới.

Hiệp Nguyễn

Cẩm nang Bảo hộ giống cây trồng

Cẩm nang Bảo hộ giống cây trồng

Theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, giống cây trồng được bảo hộ là giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển, thuộc Danh mục loài cây trồng được Nhà nước bảo hộ do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, có tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định và có tên phù hợp.

Mời bạn tham khảo Các điều kiện để công nhận giống cây trồng mới, Quyền của tác giả và chủ bằng bảo hộ, và Quy trình đăng ký thẩm định tại Cẩm nang Bảo hộ giống cây trồng dưới đây.


Cẩm nang Bảo hộ Giống cây trồng – Green Edu
Đại học Thanh Hoa sở hữu nhiều bằng sáng chế nhất Trung Quốc

Đại học Thanh Hoa sở hữu nhiều bằng sáng chế nhất Trung Quốc

Nông nghiệp rất cần đổi mới và chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, các sáng kiến từ các trung tâm nghiên cứu hoặc trường đại học được tài trợ bởi nhà nước thường không thể đến được với đông đảo nông dân hoặc các người dùng cuối. Hầu hết các trường đại học thiếu cả chính sách lẫn nhân sự để quản lý sở hữu trí tuệ một cách hiệu quả. Đại học Thanh Hoa (Tsinghua University) tại Bắc Kinh, Trung Quốc là một thành công ngoại lệ.

Các trường đại học hiện nay thường sở hữu các bản quyền bắt nguồn từ những nghiên cứu do chính phủ tài trợ. Tuy nhiên, khả năng chuyển giao công nghệ và thương mại hóa vẫn còn thấp. Tại Trung Quốc cũng như các nước đang phát triển khác, kể cả khi được tài trợ bởi các đơn vị trong và ngoài nước cho các nghiên cứu về đổi mới trong nông nghiệp, đa số các trường đại học và viện nghiên cứu gặp nhiều khó khăn trong việc tham gia vào quá trình phổ biến và thương mại hóa. Các khung pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ, các thỏa thuận chuyển giao quyền sở hữu vô hình và hữu hình cho các đối tác khối công, khối tư nhân hoặc đơn vị quốc tế, còn nhiều lỗ hổng. Năng lực nội bộ của các đơn vị nghiên cứu cũng cần được tăng cường.

Sở hữu trí tuệ hay IP (viết tắt của Intellectual Property) là một khái niệm pháp lý và xã hội tương đối mới ở Trung Quốc. Luật pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chính thức được đưa ra vào những năm 1980s và liên tục được cập nhật. Đại học Thanh Hoa là một trong các đơn vị dẫn đầu cả nước, sở hữu Văn phòng Sở hữu Trí tuệ Tsingyihua – Tsingyihua Intellectual Property LLP – chuyên quản lý các bằng sáng chế, bí mật thương mại, bí quyết, nhãn hiệu, bản quyền và bất kỳ quyền lợi liên quan đến các tài sản trí tuệ của trường. 

Văn phòng Sở hữu Trí tuệ Tsingyihua

Văn phòng Sở hữu Trí tuệ Tsingyihua (Tsingyihua Intellectual Property, LLP) được thành lập dưới hình thức Công ty Hợp danh Trách nhiệm Hữu hạn từ năm 1984. Từ vai trò ban đầu là phục vụ riêng cho Đại học Thanh Hoa, Văn phòng Tsingyihua đã mở rộng dịch vụ và trở thành một trong những công ty sở hữu trí tuệ toàn diện danh tiếng nhất cả nước. 

Văn phòng Tsingyihua đã đại diện cho các khách hàng toàn cầu của mình trong các vụ kiện quan trọng liên quan đến đăng ký bằng sáng chế, nhãn hiệu và bản quyền, thẩm định lại và chấm dứt hiệu lực của quyền sở hữu. Văn phòng Tsingyihua cũng hỗ trợ xử lý vi phạm, tư vấn pháp lý và thỏa thuận điều khoản hợp đồng. Hiện nay, đội ngũ chuyên viên, luật sư của Văn phòng Tsingyihua còn tham gia đào tạo cho chuyên ngành Sở hữu trí tuệ cho Đại học Thanh Hoa, cũng như được tòa án các cấp giao phó nhiệm vụ xét xử các vi phạm bằng sáng chế.

Quyền và trách nhiệm Sở hữu trí tuệ tại Thanh Hoa

Tại Đại học Thanh Hoa, chính sách của trường về Sở hữu trí tuệ nêu rõ trách nhiệm của từng nhân viên. Bất kỳ nghiên cứu viên nào cũng cần tiết lộ tất cả các kết quả của một dự án đã hoàn thành cho Phòng Hành chính. Phòng Hành chính sau đó sẽ quyết định có nên nộp đơn xin cấp bằng sáng chế hay không. Nếu kết quả nghiên cứu có giá trị thương mại nhưng không phù hợp với các yêu cầu của một bằng sáng chế, kết quả đó sẽ được bảo vệ như một bí mật thương mại.

Khi một công ty hoặc đơn vị bên ngoài tài trợ một dự án nghiên cứu, Văn phòng Sở hữu trí tuệ sẽ kiểm tra hợp đồng kỹ càng trước khi nó được có hiệu lực. Các điều khoản về quyền sở hữu trí tuệ của kết quả nghiên cứu, phân bổ chi phí và doanh thu của bằng sáng chế, cũng như các thỏa thuận khác cần chặt chẽ và đầy đủ. 

Khi một giảng viên hoặc nhân viên của Đại học Thanh Hoa đến làm việc và nghiên cứu tại một đơn vị khác, dù là trong hay ngoài nước, thì bất kỳ bản quyền nào đến từ kết quả của họ cũng phải được chỉ định, toàn phần hoặc một phần, cho Đại học Thanh Hoa, trừ khi có thỏa thuận khác được ưu tiên.

Giảng viên, Sinh viên và Quyền Sở hữu trí tuệ

Theo chính sách của Thanh Hoa, ít nhất 25 phần trăm doanh thu được tạo ra bởi một bằng sở hữu trí tuệ sẽ thuộc về (các) nhà phát minh ra nó, dưới dạng tiền mặt hoặc vốn chủ sở hữu.

Đại học Thanh Hoa không quản ngại nỗ lực để nâng cao nhận thức cho giảng viên và sinh viên về Sở hữu trí tuệ và các chính sách Sở hữu trí tuệ của trường. Mỗi khi nhân viên của Đại học Thanh Hoa ký hợp đồng nghiên cứu với các tổ chức hoặc công ty khác, dù là dưới dạng hợp tác nghiên cứu, hay tài trợ nghiên cứu, Đại học Thanh Hoa đều có sẵn hợp đồng và các quy trình chuẩn. Thanh Hoa còn lập ra một nguồn quỹ riêng để chi trả cho các bằng sáng chế, bao gồm phí nộp đơn, phí kiểm tra, phí đại lý và phí bảo trì trong ba năm đầu tiên từ khi bằng sáng chế được cấp.

Những biện pháp này khiến Đại học Thanh Hoa sở hữu nhiều bằng sáng chế hơn bất kỳ trường đại học nào khác của Trung Quốc. Từ năm 1985 đến năm 2000, Đại học Thanh Hoa đã nộp 1.587 đơn xin cấp bằng sáng chế. Kể từ năm 2001, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của số hồ sơ bằng sáng chế của Thanh Hoa là 26%. Năm 2004, Thanh Hoa đã nộp 43 đơn đăng ký quyền sở hữu trí tuệ tại nước ngoài (bao gồm các hồ sơ Hiệp ước Hợp tác Sáng chế, Patent Cooperation Treaty hay PCT). Số lượng bằng sáng chế được cấp cho Đại học Thanh Hoa đã tăng từ 121 lên 537 chỉ trong 5 năm (1999-2004). 

Các trường đại học khác có trình độ quản lý Sở hữu trí tuệ tương tự bao gồm Đại học Bắc Kinh (Đại học Bắc Kinh) và Đại học Công nghệ Trung Quốc. 

Nguồn: Ngân hàng Thế giới. (2012). Hệ thống Đổi mới Nông Nghiệp: Một nguồn tài liệu đầu tư. World Bank Publicatión. Thông tin tổng hợp từ Hộp 5.27 Quản lý sở hữu trí tuệ tại Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc.


Các bài viết khác trong Chuyên đề Hệ thống Đổi mới Nông nghiệp:

[Green Talk] Hữu cơ – Có thể bạn chưa biết

[Green Talk] Hữu cơ – Có thể bạn chưa biết

Làm sao để cân bằng giữa sản lượng và chất lượng? Để có một đời sống thịnh vượng mà không làm kiệt quệ thiên nhiên? Để bảo vệ cả sức khỏe người tiêu dùng và người sản xuất? Những câu hỏi trên và nhiều nội dung hấp dẫn khác đã được giải đáp bởi các chuyên gia và các doanh nghiệp tiên phong về nông nghiệp hữu cơ trong sự kiện [Green Talk 05] Hữu cơ – Có thể bạn chưa biết, diễn ra vào ngày thứ sáu 17/07/2020 vừa qua.

Sự kiện [Green Talk 05] Hữu cơ – Có thể bạn chưa biết hân hạnh có sự góp mặt của Tiến sĩ Nguyễn Bá Hùng – Viện trưởng Viện Kinh tế Nông nghiệp Hữu cơ, chị Tôn Nữ Mộng Hằng – Phó Ban Dự án Nông nghiệp thuộc Liên hiệp HTX Thương mại TP.HCM (Saigon Co.op), và anh Võ Đức Huy – Giám đốc Công ty TNHH Sinh Học Tự Nhiên Phú Quốc (Phú Quốc Biona).

Chương trình gồm 3 nội dung chính:

  1. Hữu cơ – Xu hướng toàn cầu
  2. Thiết lập trang trại đạt chuẩn
  3. Câu chuyện hữu cơ tiêu biểu

Trang trại Hữu cơ – Xu hướng toàn cầu

Bạn có biết rằng Việt Nam là một trong ba nước dẫn đầu thế giới về diện tích đất được canh tác hữu cơ đã gia tăng trong năm 2018? Bạn có biết nông nghiệp hữu cơ theo tiêu chuẩn quốc tế được phát triển ở Việt Nam ngay từ đầu những năm 1990s bởi các tổ chức phi chính phủ? Đội ngũ Cộng sự Chuỗi Giá trị (VCA) đến từ Green Edu đã không chỉ trình bày về xu hướng của thị trường nông nghiệp hữu cơ toàn cầu, mà còn giới thiệu cụ thể quá trình thiết lập một trang trại đạt tiêu chuẩn hữu cơ.

Tại Việt Nam, các mô hình trang trại hữu cơ vô cùng đa dạng. Mô hình doanh nghiệp thành lập trang trại tại nhiều tỉnh thành của Công ty TNHH Nông nghiệp Nhất Thống với thương hiệu Everyday Organic tại TP.HCM, Đắk Lắk và Hậu Giang là một câu chuyện đầy cảm hứng về những người rẽ ngang để lăn lộn cùng cây rau, con cá. Mô hình liên kết chuỗi giá trị giữa Hợp tác xã Quế hồi Việt NamCông ty Vinasamex là bài ca thành công của những người nông dân tự tin năng động của vùng cao Yên Bái. Trang trại Darwin tại Vĩnh Phúc là tâm huyết của một đôi vợ chồng muốn cung cấp thực phẩm sạch cho học sinh. Cuối cùng là cánh đồng đầy hoa và bướm của Hợp tác xã Đồng Sương (Hòa Bình) nơi mà canh tác hữu cơ đã mang lại một cuộc sống mới cho nhiều nông hộ.

Khán giả hào hứng tham gia các trò chơi trong sự kiện [Green Talk 05] Hữu cơ – Có thể bạn chưa biết.

Tọa đàm Khởi nghiệp Nông nghiệp Hữu cơ

Phần Tọa đàm giữa Tiến sĩ Nguyễn Bá Hùng, chị Tôn Nữ Mộng Hằng và anh Trần Đức Huy đã diễn ra vô cùng gay cấn và chân thực. Tọa đàm xoay quanh ba chủ đề chính: Câu chuyện khởi nghiệp nông nghiệp hữu cơ, Định vị và định hướng trong thị trường nông sản sạch, và Canh tác hữu cơ – Con đường không trải hoa hồng. Khán giả không ngớt câu hỏi, không ngần ngại chia sẻ câu chuyện của mình. Những góc nhìn, trải nghiệm thực tế được giãi bày trong phần Tọa đàm thực sự đã gieo mầm cho một cộng đồng hữu cơ đầy sức sống.

Ghi chú từ Phần Hỏi – Đáp với Tiến sĩ Nguyễn Bá Hùng

1) Sản phẩm hữu cơ có phải chỉ dành cho người giàu?

Thời gian đầu, đúng là nông sản hữu cơ hầu như chỉ có khách hàng là những người giàu.

Khi Organik Đà Lạt mở ra và trở thành trang trại đầu tiên ở Việt Nam được chứng nhận Organic quốc tế, chính những người ngoại quốc, những người có thu nhập cao, những bếp trưởng của các nhà hàng cao cấp,…  là những người đã cứu nông trại.

Lý do đơn giản là vì lúc đó nhận thức về giá trị của nông sản hữu cơ ở nước mình còn thấp. Mọi người chưa hiểu hữu cơ là gì, rau củ quả hữu cơ có khác gì với rau củ quả thường ngoài chợ, và chưa có thói quen tìm mua thực phẩm hữu cơ. Trong khi đó, nhóm người ngoại quốc và người có thu nhập cao là những người sớm hiểu được điều này và có sẵn thói quen sử dụng sản phẩm hữu cơ. 

Một lý do nữa là sản phẩm hữu cơ trong giai đoạn đầu có giá khá cao. Để sản phẩm được chứng nhận hữu cơ, người canh tác phải bỏ ra rất nhiều công sức và chi phí, từ chi phí vật tư, chi phí vận hành trang trại, đến chi phí chứng nhận. Vì thế, với giá thành khá cao trong giai đoạn đầu mới thâm nhập thị trường, sản phẩm hữu cơ hầu như chỉ được mua bởi các gia đình có thu nhập khá.

Thú thật, cũng nhờ họ mà tụi này mới có cảm hứng, cố gắng sản xuất, xử lý các khó khăn.

Tuy nhiên, sau Organik Đà Lạt, ngày càng nhiều các nông trại thử nghiệm và thành công trong sản xuất hữu cơ, đạt được chứng nhận quốc tế và trong nước về sản xuất hữu cơ. Ngày càng nhiều người trồng, ngày càng nhiều nông sản hữu cơ được tạo ra, thì giá thành sẽ ngày càng phù hợp hơn với nhiều đối tượng tiêu dùng. 

Hơn nữa, không bao giờ có ai làm bá chủ nông nghiệp hữu cơ được, vì không một đơn vị riêng lẻ nào có thể đảm bảo được sản xuất đủ số lượng, đủ đa dạng, liên tục trong năm. Do đó, một cộng đồng hữu cơ cần phải được tạo thành. Ai ở đâu, khí hậu, thổ nhưỡng thích hợp để nuôi trồng gì thì sản xuất ra cái đó. Ai giỏi khâu nào thì làm tốt khâu đó. Phải tạo thành phong trào hữu cơ, thành cộng đồng, thì mới thành công được.

Tọa đàm giữa Tiến sĩ Nguyễn Bá Hùng – Viện trưởng Viện Kinh tế Nông nghiệp Hữu cơ, chị Tôn Nữ Mộng Hằng – Phó Ban Dự án Nông nghiệp thuộc Liên hiệp HTX Thương mại TP.HCM (Saigon Co.op), và anh Võ Đức Huy – Giám đốc Công ty TNHH Sinh Học Tự Nhiên Phú Quốc (Phú Quốc Biona) cùng chị Nguyễn Thị Ánh Nguyệt – Quản lý Đào tạo Công ty Green Edu.
2) Tại sao nông sản hữu cơ thường có giá thành cao?

Trong nông nghiệp hữu cơ, dù có hiểu về lý thuyết thì khi ra thực tế cũng gặp rất nhiều vấn đề. Đầu tiên, để đạt tiêu chuẩn, vật liệu đầu vào phải đạt chuẩn của OMRI (Organic Materials Review Institute) – chuẩn quốc tế về đầu vào sản xuất nông nghiệp hữu cơ – những thứ vừa hiếm vừa đắt đỏ ở Việt Nam.

Thứ hai là việc không dùng hóa chất trong canh tác, vì thế mà người sản xuất phải mất nhiều thời gian và chi phí cho việc xua đuổi hoặc khống chế côn trùng, bệnh dịch trên cây trồng, vật nuôi, cũng như chế tạo hay sử dụng thuốc kháng côn trùng sinh học.

Ngoài ra, để đạt được chứng nhận, người sản xuất còn phải chuẩn bị rất nhiều hồ sơ, sổ sách, quy trình, đào tạo nhân công, xây dựng khu sơ chế,… Nếu không cố gắng đạt các tiêu chí này để được chứng nhận quốc tế, rất ít khách hàng tin vào chất lượng của sản phẩm. Mình trả phí cao để được cấp chứng nhận cũng vì sự khắt khe của chứng nhận đó.

Hơn nữa, thông thường, mọi người chỉ nghĩ đến việc trả tiền cho chất lượng sản phẩm, tức là trả nhiều tiền cho sản phẩm hữu cơ vì muốn đảm bảo sức khỏe cho riêng mình. Tuy nhiên, giá trị phía sau của một sản phẩm hữu cơ còn nhiều hơn thế. Giá trị đó chính là chất lượng môi trường: sự màu mỡ của đất, sự giàu có của các vi sinh vật, sự đa dạng của hệ sinh thái, sự hạn chế các chất độc hại thải ra không khí và nguồn nước. 

Khán giả hào hứng đặt câu hỏi trong phần Tọa đàm của sự kiện [Green Talk 05] Hữu cơ – Có thể bạn chưa biết.
3) Trong nông nghiệp hữu cơ, tỉ lệ phân vô cơ như NPK hoặc các dòng phân khác là bao nhiêu thì chấp nhận được?

Mọi người thường hay nghĩ bón phân hữu cơ không năng suất bằng bón phân hóa học. Tuy nhiên, thực tế là khi chúng ta bón phân hữu cơ tới năm thứ ba, thứ tư, năng suất cây trồng sẽ trở lại như khi dùng phân hóa học. Cây trồng hữu cơ phát triển cân đối, chất lượng tốt.

Trong nông nghiệp hữu cơ, phân bón có nguồn gốc hóa học không được sử dụng. Chỉ phân có nguồn gốc từ động vật, thực vật, nguồn gốc sinh học mới được cho phép, và phân này phải có chứng nhận OMRI. Tiêu chuẩn hữu cơ EU (châu Âu) yêu cầu hàm lượng đạm/ha/năm không quá 170N. Trong phân, tiêu chuẩn EU yêu cầu phân có nguồn gốc động thực vật có hàm lượng đạm dưới 4, còn USDA thì cho phép trên 4. Những chi tiết này chúng ta cần tìm hiểu rõ để áp dụng cho từng tiêu chuẩn.

3) Có cách nào làm cho chứng nhận rẻ hơn không?

Nếu nông sản chỉ phục vụ thị trường trong nước, không ai ép chúng ta lấy chứng nhận quốc tế. Mình lấy các chứng nhận này chủ yếu là để chứng minh cho khách hàng.

Việt Nam cũng có chứng nhận hữu cơ riêng, nhưng hiện ít người dùng. Lòng tin của người tiêu vào chứng nhận này không có. Ngoài ra còn có PGS – Hệ thống đảm bảo cùng tham gia dành cho các hộ nhỏ lẻ liên kết và giám sát chéo lẫn nhau được các dự án phi chính phủ áp dụng.

Với các chứng nhận quốc tế, cơ quan chứng nhận tiến hành thanh tra rất chặt chẽ. Chính điều đó tập cho nhà sản xuất phải nghiêm khắc với chính mình, phục vụ khách hàng đàng hoàng hơn, niềm tin của người tiêu dùng được củng cố hơn. 

Nếu mình cho người tiêu dùng biết được quá trình canh tác của mình như thế nào, khách hàng của mình tin tưởng và mua hàng, thì chứng nhận không cần thiết nữa.


Ghi chú từ Phần Hỏi – Đáp với anh Võ Đức Huy – Giám đốc Công ty TNHH Phú Quốc Biona

Vì sao anh quyết tâm làm nông nghiệp hữu cơ và gặp những khó khăn gì khi theo đuổi nông nghiệp hữu cơ?

Sau một thời gian dài đi khắp các tỉnh từ Bắc tới Nam thì mình nhận ra bà con mình làm nông nghiệp phun thuốc nhiều quá, chất hóa học nhiều quá, đất bây giờ toàn là “đất chết”. Cơ duyên xảy đến khi mình xuống Kiên Giang, ở đây có nghề trồng tiêu và có giống tiêu Phú Quốc rất ngon. Thế là mình tìm hiểu, và bỏ công sức làm vùng trồng tiêu hữu cơ đạt chuẩn tại đây.

Mình là người tay ngang trong ngành, khi bắt đầu không biết gì về tiêu hết. Mình phải tự học hỏi từ cách trồng, thời điểm ra hoa, đậu trái, thu hoạch. Mình mày mò, nghiên cứu quy trình, máy móc (từ máy sấy, máy sàng, bao bạt),…. Có khi mình phải tới tận nơi để xem có phải inox 304 không vì sợ bị lừa.

Giai đoạn năm 2015, đi tìm phân thật, phân tốt rất khó khăn. Thị trường vật tư nông nghiệp hỗn loạn, có những loại trên nhãn ghi là OMRI nhưng test ra không phải. Lúc đó mình không có thầy, không có chuyên gia hướng dẫn, nên phải tốn khá nhiều tiền cho những bài học để đời về nông nghiệp hữu cơ. 

Mà làm hữu cơ thì phải rất là cẩn trọng. Mình lấy đất khắp Kiên Giang đi xét nghiệm để chọn ra vùng thích hợp. Mình liên kết với nông dân, vừa đầu tư vào cho họ, hướng dẫn quy trình họ, vừa phải giám sát họ để đảm bảo chất lượng đầu ra. Mình còn phải để ý các hộ bên cạnh vùng trồng của mình có xịt thuốc không, nguồn nước gần đó có bị nhiễm hóa chất không.

Hàng làm tốt rồi, có chứng nhận rồi, mình đem xuất khẩu. Nhiều khi nghĩ cũng buồn vì người Nhật làm ra sản phẩm ngon nhất cho người dân nước họ, Phú Quốc Biona lại bán hàng ngon cho nước khác. Nhưng mình hiểu tâm lý người Việt thường thích hàng nước ngoài hơn, chưa hiểu nhiều về giá trị sản phẩm nông nghiệp hữu cơ, nên hàng mình đi nước ngoài để có uy tín rồi 2 năm sau về thị trường nội địa phục vụ bà con.

Đợt Covid này doanh nghiệp cũng điêu đứng chứ. Nhưng mình vẫn tiếp tục làm, tiếp tục lấy chứng nhận hữu cơ.

Làm hữu cơ cực nhưng mà vui. Mình coi việc làm nông nghiệp hữu cơ có ý nghĩa như là làm từ thiện vậy. Làm nông nghiệp hữu cơ bảo vệ sức khỏe con người – bà con không bị ung thư, đất không chết nữa, không gây hiệu ứng nhà kính. Từ hồi canh tác hữu cơ, chim chóc về vùng trồng tiêu của mình ngày càng đông, mình còn treo thưởng cho nông dân không bắn chim nữa. 

Nhiều người gọi mình là “ông Huy ngang tàng”, nhưng thật ra là mình làm gì cũng xông xáo, hết mình. Làm nông nghiệp hữu cơ quan trọng là có cái tâm, có tinh thần, có sức trẻ. Mình sẵn sàng chỉ các bạn trẻ làm nông nghiệp hữu cơ để nông nghiệp Việt Nam mình phát triển. Cái gì nước ngoài làm được, thì Việt Nam làm được.

Khán giả, khách mời và ban tổ chức cùng giơ 3 ngón tay để tạo thành chữ ‘W’ trong từ ‘We – Chúng tôi’, hướng về một cộng đồng nông nghiệp hữu cơ vững mạnh.

Sự kiện [Green Talk 05] Hữu cơ – Có thể bạn chưa biết kết thúc trong những cái bắt tay thân tình, những nụ cười, và những mối nhân duyên mới. Group Facebook Làng hữu cơ cũng xuất hiện thêm nhiều gương mặt. Tất cả mọi người tham dự đã tham gia và chia sẻ với rất nhiều tâm huyết. Hẳn, một cộng đồng hữu cơ, một phong trào hữu cơ tại Việt Nam đã và đang hiện hữu, và sẽ ngày càng phát triển với sự chung tay của mọi người.


Green Talk là chuỗi sự kiện do đội ngũ VCA (Cộng sự Chuỗi giá trị) thuộc Green Edu tổ chức, nhằm thay đổi và nâng cao nhận thức của người trẻ về nông nghiệp. Đồng thời, chương trình cũng kết nối và chia sẻ kiến thức đến những người đam mê nông nghiệp. 


CỤM RƯỢU VANG NAM PHI: LIÊN KẾT LÀ SỨC MẠNH

CỤM RƯỢU VANG NAM PHI: LIÊN KẾT LÀ SỨC MẠNH

Đó là một buổi sáng tháng 7 năm 1992, và bạn đang ở thị trấn Stellenbosch, Nam Phi. Mặt trời đổ bóng trên những hàng nho Chenin Blanc và Colombard. Còn 2 năm nữa người da màu mới được tham gia bầu cử lần đầu tiên ở Nam Phi. Chế độ phân biệt chủng tộc apartheid vẫn hằn sâu trong bộ luật quốc gia và trong những cuộc đánh bom đẫm máu đòi quyền bình đẳng. Các nước phương Tây lần lượt tẩy chay hàng hóa từ Nam Phi, đẩy Nam Phi ra khỏi Khối thịnh vượng chung (Commonwealth) và Thế vận hội Olympic. Chỉ trong một thời gian ngắn nữa thôi, đạo luật bảo vệ doanh thu cho người trồng nho, cũng như quy định bắt buộc gia nhập hệ thống hợp tác xã sẽ kết thúc. Hải quan sẽ mở cửa cho các dòng rượu vang ngoại nhập tràn vào thị trường nội địa chật hẹp. Các hầm rượu vốn đã quen sản xuất rượu trắng chất lượng thấp đứng trước những thị trường nhập khẩu với yêu cầu chất lượng khắt khe. Áp lực đến từ mọi phía. Bạn sẽ làm gì?

Thành công không dễ

Ngành rượu vang Nam Phi đã phát triển đáng kể từ đầu những năm 1990 trong thị trường toàn cầu cực kỳ cạnh tranh. Sản lượng xuất khẩu tăng từ 20 lên đến 177 triệu lít trong khoảng thời gian từ 1992 đến 2002. Cùng thời gian này, sản lượng rượu vang phổ thông (“table wine”, tạm dịch là rượu vang để bàn) tăng 33%. Nam Phi là trường hợp thành công điển hình của một cụm ngành nông nghiệp.

Nhìn trên bề mặt, ở thời điểm hiện tại, ngành rượu vang Nam Phi có cơ quan nghiên cứu Winetech chuyên cung cấp những công nghệ tối tân, có hệ thống nhà tư vấn được tin dùng bởi các hãng rượu vang nổi tiếng, có ban marketing toàn quốc gia mang tên WOSA chuyên xây dựng chiến lược thương hiệu cho toàn Nam Phi để cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, thành công này đến không hề dễ dàng, đặc biệt là ở một đất nước đã bị chia cắt trên nhiều bình diện, từ thể chế, văn hóa đến thị trường.

Rượu vang được sản xuất ở Nam Phi lần đầu tiên bởi Jan van Riebeeck tại một khu định cư thuộc Công ty Đông Ấn Hà Lan. 
Tiêu đề tranh: Jan van Riebeeck đến Table Bay, tháng 4 năm 1652. Suid-Afrikaanse Geskiedenis in Beeld (1989) by Anthony Preston. Bion Books: In tại Nam Phi.

Sửa chính sách sai

Các nhà sản xuất rượu vang Nam Phi có thể được chia thành bốn phân khúc: 

  • nhà sản xuất lâu năm, 
  • nhà sản xuất mới, 
  • hợp tác xã, và 
  • nhà bán buôn (vai trò chính là tiếp thị, bán hàng và phân phối, nhưng cũng sản xuất rượu).

Tại Nam Phi vào những năm 1990, hầu hết đất đai nằm trong tay người da trắng. Lao động người da đen phải sống trong cảnh áp bức, đói nghèo. Luật pháp quốc gia bảo vệ những chủ trang trại người da trắng bằng cách hạn chế số lượng dây nho được trồng, cũng như áp mức giá tiêu chuẩn cho tất cả nước nho. Những nhà bán buôn và các hầm rượu tư nhân phản đối những quy định này, vì họ cho rằng chúng kìm hãm cải tiến trong sản xuất và phân phối, chưa kể còn khuyến khích nhà sản xuất bán rượu kém chất lượng vì giá đã được đảm bảo.

Khi hệ thống hạn ngạch được bãi bỏ vào năm 1992, nhiều nhà sản xuất mới có thể mở rộng diện tích trồng những giống nho mà thị trường thế giới đang ưa chuộng. Cùng với các ưu đãi cho trồng mới và trồng lại, chỉ trong 10 năm, số vườn nho dưới 8 năm tuổi đã chiếm 37% tổng diện tích canh tác nho tại Nam Phi, và chất lượng rượu vang đã tăng lên đáng kể.

Sức ép hợp tác từ thị trường và chính phủ

Tiếp theo đó, các chính sách kinh tế vĩ mô đã được đưa ra hàng loạt, bao gồm tự do hóa thương mại nông nghiệp, cải cách ruộng đất, giảm trợ cấp trực tiếp và đưa ra mức lương tối thiểu cho nông dân. Sự nghi kỵ giữa các bên vẫn còn rất lớn, nhưng do sức ép từ hàng ngoại nhập tràn vào thị trường nội địa chật hẹp, cộng với các ưu đãi từ chính phủ, những nhà sản xuất tại Nam Phi mới bắt tay vào hợp tác.

Một cụm ngành cạnh tranh đòi hỏi sự hợp tác giữa nhiều cấp chính phủ, công ty, tổ chức giảng dạy và nghiên cứu, nhà cung cấp dịch vụ, cơ quan thiết lập tiêu chuẩn và các tổ chức tư nhân được hình thành. Và cần thiết phải có một cơ quan giữ đủ mạnh đứng ra điều phối. Vì các đơn vị tư nhân thường không có đủ động lực và tiềm lực để đứng ra điều phối, nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc thành lập cơ quan này.

Công ty Rượu vang và Rượu Brandy Nam Phi (SAWB) được thành lập với sự tham gia của tất cả các bên liên quan. Chính sách ghi rõ SAWB là một công ty phi lợi nhuận, đại diện cho các nhà sản xuất rượu vang, công nhân và nhà bán buôn, có thẩm quyền quốc gia và có cam kết tăng cường khả năng cạnh tranh trên mọi khía cạnh của ngành rượu vang Nam Phi thông qua sự đổi mới và cải tiến.

SAWB điều hướng tri thức bằng cách tổ chức các nghiên cứu nền tảng trong những lĩnh vực được lựa chọn kỹ càng. SAWB đề ra các tiêu chuẩn và mục tiêu hiệu suất để điều hướng phát triển công nghệ. SAWB tạo ra cơ chế khen thưởng, hỗ trợ, và thực thi nhằm khuyến khích đổi mới theo định hướng thị trường. SAWB cũng thúc đẩy thay đổi trên bình diện chính trị xã hội nhằm đem lại công bằng cho người lao động da đen (Wood và Kaplan 2006).

Liên kết là sức mạnh

Nếu một doanh nghiệp nhỏ nằm trong một cụm ngành, nó sẽ được hỗ trợ phát triển bởi các đơn vị cung cấp dịch vụ và đầu vào của cụm ngành đó. Thay vì phải thực hiện mọi khâu hoặc phụ thuộc vào một đơn vị cung ứng duy nhất, doanh nghiệp có thể phân bổ hoạt động cho các mắt xích của chuỗi giá trị, giúp giảm rủi ro. Doanh nghiệp mới cũng sẽ được công nhận và đạt vị thế nhanh hơn trên thị trường nhờ ở gần các đối thủ cạnh tranh. Toàn cụm cũng có thể tiếp cận các đầu vào rẻ hơn hoặc phục vụ tốt hơn các thị trường cụ thể.

Nhưng trên hết, chỉ khi toàn ngành cùng hợp tác, họ mới có được sức mạnh để xuất khẩu và tiếp thị trên quy mô lớn. Nhận thức rằng một công ty đơn lẻ không thể tiếp thị cho cả quốc gia, SAWB đã chỉ định tổ chức tư nhân Rượu vang Nam Phi (WOSA) thay mặt cho 320 nhà xuất khẩu rượu vang trong nước để quảng bá rượu vang Nam Phi ra quốc tế. 

Winetech và Hội nghị Thượng đỉnh Đổi mới Nam Phi phát động cuộc thi dành cho các công ty khởi nghiệp nông nghiệp công nghệ cao nhằm phát triển các giải pháp cho các vấn đề chính mà các nhà sản xuất rượu vang phải đối mặt. Ảnh: https://awpnetwork.com/

Đào tạo để đổi mới

Dù thị trường xuất khẩu được mở ra, nhưng các yêu cầu về sản lượng lớn, chất lượng cao và sản phẩm đồng nhất vẫn luôn là thách thức với các nhà sản xuất. Thị trường xuất khẩu cũng không tránh khỏi các thất bại thị trường (market failures) và thông tin không hoàn hảo (imperfect information). Chính việc hợp tác và hợp tác tốt hơn giữa các bên đã tạo ra các cải tiến để khắc phục vấn đề.

Cụm rượu vang Nam Phi đã thay đổi cách tiếp thị, quy trình sản xuất rượu vang, cải tiến giống và thực hành bán đấu giá. Các nhà sản xuất lớn còn sử dụng rộng rãi các tư vấn viên nhằm cập nhật xu hướng trong nước và quốc tế để đảm bảo thành công. Năng lực truyền tải và tiếp nhận kiến thức là chìa khóa cho đổi mới.

Đào tạo tại chỗ là hình thức học tập chính ở các cụm ngành cường độ cao. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các cụm ngành nông nghiệp thường không đào tạo đủ. Tại cụm rượu vang Nam Phi, Viện Đào tạo Elsenburg đã được thành lập, bao gồm nhiều vườn nho và một hầm rượu. Nhà nước hỗ trợ các khóa đào tạo của Elsenburg, ký hợp đồng với các chuyên gia rượu, mở chương trình đào tạo thạc sĩ. Elsenburg trở thành trung tâm trao đổi kiến thức của hầu hết các nhà sản xuất, nhộn nhịp hệt như các diễn đàn trồng nho và các hiệp hội giống (Wood và Kaplan 2006).

Cụm ngành rượu còn thành lập Mạng lưới Chuyên môn và Công nghệ Ngành Rượu vang – Winetech. Winetech phục vụ như một hội đồng tư vấn cho các chính sách của SAWB. Winetech vận hành một mạng lưới rộng lớn gồm các tác nhân trong ngành, các nhà khoa học và kỹ sư từ các trường đại học và Hội đồng Nghiên cứu Nông nghiệp – ARC. Nhà nước Nam Phi cũng tài trợ một phần cho ARC để hỗ trợ kỹ thuật cho toàn cụm. 

Cùng nhau hội nhập

Trong thị trường xuất khẩu rượu vang phổ thông (table wine), giá cả luôn bị ép xuống bởi các hệ thống siêu thị lớn, dẫn đến đời sống ngày càng chật vật cho người lao động. Những thay đổi chính trị như cải cách ruộng đất để người dân có quyền sở hữu đất, việc lập ra các liên đoàn lao động để đòi quyền lợi cho người nông dân, đã rơi vào bên lề câu chuyện. Thay vào đó, các doanh nghiệp thường lựa chọn những giải pháp tự nguyện như các chứng chỉ như Fairtrade (Thương mại Công bằng) hoặc các bản cam kết hành động đạo đức như WIETA code.

Các cụm xuất khẩu thường tạo ra mức lương, năng suất và đổi mới trên trung bình. Cụm rượu vang Nam Phi cho thấy những lợi ích đó. Khi kinh tế tăng trưởng, các bên tham gia cần hợp tác và đổi mới mạnh mẽ hơn nữa để thúc đẩy sự thịnh vượng cho toàn xã hội

Nguồn: Ngân hàng Thế giới. (2012). Hệ thống Đổi mới Nông Nghiệp: Một nguồn tài liệu đầu tư. World Bank Publicatión. Thông tin tổng hợp từ Hộp 5.22 Cụm rượu vang Nam Phi.


Các bài viết khác trong Chuyên đề Hệ thống Đổi mới Nông nghiệp:

[Green Talk] Sức khỏe cộng đồng cùng cây dược liệu

[Green Talk] Sức khỏe cộng đồng cùng cây dược liệu

Với hơn 5.000 loài thực vật và nấm, 400 loài động vật và 75 loài khoáng vật có thể dùng làm thuốc, tiềm năng dược liệu của Việt Nam là vô cùng to lớn. Thế nhưng, trên 80% dược liệu sử dụng trong nước hiện tại lại phải nhập từ nước ngoài. Làm thế nào để cả cộng đồng, từ người trồng, nhà nghiên cứu, người thầy thuốc, đến mỗi hộ gia đình, có thể bắt tay vào gìn giữ và phát triển tiềm năng ấy? Đó chính là ngọn lửa mà các chuyên gia về dược liệu đến từ Viện Kinh Tế Xanh muốn truyền đến cộng đồng, đặc biệt là những người trẻ, trong sự kiện Green Talk 06: Sức khỏe cộng đồng cùng cây dược liệu đã diễn ra vào 9h00 sáng ngày 13/8/2020 vừa qua.

Trong không gian thoáng đãng của Truly Cafe – địa điểm kinh doanh cà phê hữu cơ tại TP.HCM – sự kiện Green Talk 06: Sức khỏe cộng đồng cùng cây dược liệu đã diễn ra với diễn giả là bác Đỗ Xuân Kế – chuyên gia Viện Kinh Tế Xanh và đội ngũ Cộng sự Chuỗi giá trị đến từ Green Edu. Chương trình gồm 4 nội dung chính:

  1. Tổng quan về ngành dược liệu – lược sử ngành và những con số
  2. Một số mô hình dược liệu tại Việt Nam – từ làng cổ đến vùng trồng
  3. Mười cây dược liệu cần có trong nhà
  4. Tọa đàm: Con đường tìm lại sức khỏe cho bản thân và cộng đồng
Các nhóm tự giới thiệu và thảo luận sôi nổi trong không gian xanh của Truly Coffee.

Tự hào dược liệu Việt Nam

Sau khi làm rõ các định nghĩa về dược, thuốc và dược liệu, các thành viên đến từ Green Edu đã đưa người tham dự ngược dòng lịch sử để tìm hiểu về những nhân vật đã xây dựng tiền đề cho nền dược học thế giới và Việt Nam – từ những vị thần sức khỏe đến những thầy thuốc tài ba. Tiếp đó, cả khán phòng cùng nhau điểm mặt những loại dược liệu bản địa đặc trưng cho 7 vùng địa lý khác nhau dọc 3 miền đất nước. Trong đó, có những loài đặc biệt quý hiếm, có loài tuy phổ biến nhưng lại có dược tính cao – mệnh danh là “thuốc quý của người nghèo”. 

“Nam dược trị Nam nhân” – dùng thuốc nước ta để chữa bệnh cho dân ta – là mong mỏi của Lương y Tuệ Tĩnh. Có nhìn thấy những nỗ lực phát triển Y học cổ truyền thông qua chính sách Bảo hiểm xã hội và các vườn thuốc nam tại mỗi trạm y tế xã, có đến thăm những vùng dược liệu nổi tiếng tại Nghĩa Trai (Hưng Yên), Nghĩa Lạc (Nam Định) hay Sinh Dược (Ninh Bình), chúng ta mới cảm nhận được tâm huyết bảo vệ sức khỏe cho dân tộc mình của những người con đất Việt.

Nhận biết cây thảo dược

Giữa giờ, người tham gia được chia thành các đội để cùng tham gia trò chơi sắp xếp các mẫu dược liệu theo đúng công dụng và tên của chúng. Đội sắp xếp nhanh nhất nhận được phần thưởng là mỗi thành viên một cuốn Sổ tay 10 cây dược liệu cần có tại nhà.

Mười cây dược liệu có công dụng trị cảm sốt, đau bụng, nhức mỏi, mất ngủ, … cần có tại nhà.
Sổ tay ‘10 cây dược liệu cần có tại nhà‘ là món quà nhằm lan tỏa tình yêu và kiến thức về những loài thảo dược.

Xây dựng chuỗi giá trị dược liệu Việt Nam

Buổi tọa đàm hấp dẫn bởi những câu hỏi không ngớt từ những người trẻ trong ngành dược liệu. Những câu trả lời chân thành, nhiệt tình từ bác Đỗ Xuân Kế – người đang dày công nghiên cứu và hoạt động tích cực để mang đến cho người Việt những sản phẩm dược liệu an toàn nhất, cũng là điểm nhấn của chương trình. 

Bác Đỗ Xuân Kế tại buổi Tọa đàm: Con đường tìm lại sức khỏe cho bản thân và cộng đồng của Green Talk 06.

Chị Hoài – người sáng lập doanh nghiệp Mộc Thanh Trà – đặt câu hỏi: “Theo bác, người trẻ mới bước vào ngành dược và có đam mê phát triển dược liệu thì nên bắt đầu ngay từ đâu? Ở khâu nghiên cứu, khâu xây dựng vùng trồng hay khâu sản xuất thành phẩm?”

Bác Kế đáp: “Chúng ta không thể một mình gầy dựng từ đầu tới cuối. Tốt nhất là mỗi người thực hiện tốt chuyên môn của mình: người trồng vùng dược liệu, người chạy nhà máy sản xuất tinh dầu, người kinh doanh bán ra thị trường. Chúng ta cần có hội, nhóm, có chương trình cụ thể.

Ví dụ, tôi có nhà máy, bạn trồng dược liệu, thì bạn hãy tìm tôi để tôi làm nhiệm vụ chiết tinh dầu. Tôi và bạn phối hợp với nhau thành 1 chuỗi – mỗi người một việc. Hơn nữa, ở nước ta còn khó khăn ở chỗ vùng nguyên liệu còn manh mún. Khó mà tìm được một vùng trồng với diện tích đất khoảng 100 héc-ta. Vì vậy, để có đủ nguyên liệu cho nhà máy vận hành, chúng ta phải biết kết hợp cùng nhiều nông hộ.”

Người tham dự đặt câu hỏi cho bác Đỗ Xuân Kế.

Anh Thiện của Công ty TNHH TM DV Trường Liên đặt câu hỏi: “Trong lúc làm việc với nông dân, cháu đau đầu vì có những lần họ không tuân thủ theo quy trình canh tác đã hướng dẫn, khiến cho chất lượng sản phẩm đầu ra không đảm bảo. Làm thế nào nếu người nông dân không làm đúng như quy trình mình đã chỉ dẫn?”

Bác Kế đáp: “Tùy theo sản phẩm mà yêu cầu đầu vào có thể chấp nhận chênh lệch hơn một chút, ví dụ như sản phẩm thuốc trừ sâu từ sả thì yêu cầu đầu vào có thể thoáng hơn. Đối với toàn bộ sản phẩm dược, tôi phải làm theo bộ tiêu chuẩn hẳn hoi. Chúng ta phải có quy trình để đưa cho nông hộ. Khi đưa quy trình thì tôi có thể kiểm tra nhật ký sản xuất của người trồng thông qua smartphone để xem họ có thực hiện theo đúng như đã hướng dẫn hay không.” 

Bác nhấn mạnh: “Chúng ta phải viết hợp đồng cụ thể, tận dụng các công nghệ hiện đại để kiểm tra, quản lý. Tôi thì kiểm tra quy trình sản xuất của nông dân bằng công nghệ blockchain, ảnh vệ tinh, và chi phí cho những công cụ này rất rẻ. Với 100ha theo dõi, phí 3 tháng để xem ảnh vệ tinh khoảng 200$, rất tiện để quan sát và theo dõi. Ví dụ, khi tới ngày phải bón phân, mình quan sát ảnh vệ tinh của vùng đất, họ làm đúng hay sai thì ảnh sẽ đổi màu tương ứng, nhìn là biết liền.”

Người tham dự đặt câu hỏi cho bác Đỗ Xuân Kế.

Cây thuốc chữa bệnh

Khi được hỏi về một số bài thuốc dược liệu mà bác Kế thường dùng cho mình và gia đình, bác chia sẻ: “Khi mình tiếp xúc nhiều với tự nhiên, sử dụng đúng các sản phẩm từ thiên nhiên, sức đề kháng cao, nguy cơ bị nhiễm bệnh của mình sẽ giảm xuống. Nếu ho thì tôi dùng nước quế, say xe nhức đầu thì hít tinh dầu, rửa tay bằng nước bồ hòn.

Còn với người già, để giảm tình trạng mỡ trong máu, làm chắc thành mạch, có thể nấu nước nấm mèo kết hợp mè đen để uống. Nấu với công thức: 20gr nấm mèo, 20gr mè đen và 2,5L nước. Nấu uống nước cả ngày. Ngoài ra, còn một liều thuốc khác cực kỳ hiệu nghiệm – chính là thể thao, 1 ngày vận động chừng 1 tiếng rưỡi đến 2 tiếng là đẩy lùi mọi cơn bệnh. Làm cái gì thì làm, nhưng phải nhớ cái quan trọng nhất là đầu tư cho sức khỏe của mình.”

Sau khi buổi tọa đàm đã kết thúc, nhiều anh chị tham dự vẫn nán lại để kết nối, chia sẻ những câu chuyện, trải nghiệm trong ngành. Chúng tôi biết rằng còn nhiều câu hỏi chưa có lời giải đáp, còn nhiều vấn đề chưa được thảo luận. Song, buổi Green Talk này đã tạo cơ hội để cộng đồng cùng kết nối, cùng hướng về một ngành dược liệu trong sạch, phát triển, đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.


Green Talk là chuỗi sự kiện do đội ngũ VCA (Cộng sự Chuỗi giá trị) thuộc Green Edu tổ chức, nhằm thay đổi và nâng cao nhận thức của người trẻ về nông nghiệp. Đồng thời, chương trình cũng kết nối và chia sẻ kiến thức đến những người đam mê nông nghiệp. 

*Green Talk 04 – Gặp mặt và chia sẻ về Hệ thống Đảm bảo Cùng tham gia (PGS) trong nông nghiệp hữu cơ https://greenedu.vn/green-talk-pgs-va-nhung-nguoi-dong-vai-ac-trong-nong-nghiep-huu-co/

NHỮNG THÀNH PHỐ NHIỀU CÂY XANH NHẤT THẾ GIỚI

NHỮNG THÀNH PHỐ NHIỀU CÂY XANH NHẤT THẾ GIỚI

Phòng thí nghiệm Senseable City của đại học MIT đã tạo ra một “bản đồ cây” Treepedia – một trang web sử dụng dữ liệu từ Google Street View để cho người xem thấy lượng cây xanh ở các thành phố khác nhau trên thế giới. Các dữ liệu này được sử dụng để đo lường “Chỉ số xanh” (Green View Index – GVI) – chỉ số thể hiện mức độ nhận thức về môi trường của công dân tại các đô thị.

Theo GVI, các thành số sau có tỉ lệ cây xanh cao nhất thế giới:

1. Singapore: 29,3%

Với diện tích hạn chế và dân số đông, việc Singapore đứng vị trí đầu tiên là lời khẳng định thương hiệu “thành phố xanh” của quốc đảo này. Cây xanh được trồng ở mọi nơi, trong các khuôn viên rộng rãi, xen kẽ giữa các tòa nhà, len lỏi vào các công trình kiến trúc. Do đó, Singapore cũng đứng top các quốc gia có chất lượng không khí sạch nhất thế giới.

Garden by the Bay (Singapore)
Nguồn: gettyimages.com

2. Vancouver: 25,9%

Thành phố nằm ở bờ Tây Bắc Mỹ từ lâu để lại ấn tượng của một đô thị yên ả, trong lành. Là một thành phố quan trọng của Canada, Vancouver được đánh giá cao trong việc kiểm soát khí thải C02 với những nỗ lực mỗi năm của chính quyền mang đến người dân cuộc sống chất lượng hơn, trong đó có việc đảm bảo hệ sinh thái cây xanh bền vững trong phát triển đô thị.Ảnh đầu tiên:

Công viên Stanley (Vancouver)
Nguồn: www.discoverthepnw.com

3. Sydney: 25,9%

Với nguồn tài nguyên rừng vô tận, chính quyền thành phố Sidney đã nỗ lực trong suốt những năm qua để đảm bảo duy trì qua đó gìn giữ hệ sinh thái động thực vật phong phú tại xứ sở chuột túi. Nhiều nghiên cứu chỉ ra những lá phổi xanh đã giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị và góp phần chống biến đổi khí hậu tại quốc gia này.

Nhà hát thành phố Sydney
Nguồn: pixabay.com

4. Cambridge: 25,3%

Thành phố đại học lừng danh của Vương quốc Anh không chỉ gây ấn tượng với những tòa lâu đài cổ kính mà còn là không gian xanh với những thảm cỏ xanh mượt, các khu vườn trồng nhiều nghệ tây và hoa thủy tiên vàng. Đạp xe trên những con đường dọc bờ sông Cam, giữa một buổi chiều êm ả, liễu rủ hai bên đường sẽ khiến bạn mãi không thể nào quên.

Du lịch trên sông tại Cambridge
Nguồn: pixabay.com

5. Durban: 23,7%

“Let's take it back to the beach, 
Where we were young and carefree…” 

Những giai điệu ngọt ngào từ ca khúc “Back to the beach” với cảm hứng từ những bãi biển xanh mát ở Durban – thành phố biển ở Nam Phi thu hút hàng triệu du khách mỗi năm. Không chỉ có cảnh đẹp mà du khách còn nhiều ấn tượng với bầu không khí trong lành và thảm thực vật phong phú tại đây.

Thành phố biển Durban
Nguồn: audleytravel.com

Nguồn: Green Edu lược dịch từ https://www.architecturaldigest.com/story/mit-senseable-city-lab-greenest-cities

Agri-Business Incubator @ICRISAT: XUẤT PHÁT LÀ HẠT GIỐNG QUỐC GIA –  PHÁT TRIỂN LÊN VƯỜN ƯƠM QUỐC TẾ

Agri-Business Incubator @ICRISAT: XUẤT PHÁT LÀ HẠT GIỐNG QUỐC GIA – PHÁT TRIỂN LÊN VƯỜN ƯƠM QUỐC TẾ

ABI @ICRISAT là vườn ươm đầu tiên của Ấn Độ mang sứ mệnh cải thiện phúc lợi của người nghèo bằng việc ươm mầm các doanh nghiệp nông nghiệp có năng lực cạnh tranh, thông qua phát triển và thương mại hóa công nghệ. Năm 2003, khi nhu cầu phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp bùng nổ trên khắp đất nước, Viện Nghiên cứu Cây trồng Quốc tế vùng Nhiệt đới Bán khô hạn (ICRISAT) đã kết hợp với Bộ Khoa học & Công Nghệ và Chính phủ Ấn Độ để thành lập ABI @ICRISAT, viết tắt của Agri-Business Incubator, tạm dịch là Vườn ươm Doanh nghiệp Nông nghiệp.

Vườn ươm doanh nông lớn nhất thế giới

Qua 16 năm hoạt động, Vườn ươm Doanh nghiệp Nông nghiệp ABI @ICRISAT đã hỗ trợ cho 103 doanh nông – những người khởi sự kinh doanh nông nghiệp, trong đa dạng các lĩnh vực như công nghệ sinh học, chế biến thực phẩm, và nông nghiệp kỹ thuật số. ABI @ICRISAT đã trở thành vườn ươm doanh nông lớn nhất thế giới và vừa nhận được giải thưởng “National Entrepreneurship Awards 2019” (giải thưởng “Doanh nghiệp Xuất sắc Quốc gia”) từ chính phủ Ấn Độ, với số tiền thưởng 1 triệu rupee (308 triệu VNĐ) vào tháng 11 năm 2019.

Những startup nông nghiệp được ABI @ICRISAT hỗ trợ đã tạo ra 2500 cơ hội việc làm, huy động được hơn 25 triệu USD, trực tiếp mang lại lợi ích cho 3 triệu nông dân chỉ riêng trong giai đoạn 2018 – 2019. ABI @ICRISAT đã giúp các startup nông nghiệp hoàn thiện hồ sơ cho 12 thương hiệu và bằng sáng chế chỉ trong 3 năm từ 2016 – 2019. Hơn 5000 người đã được trang bị thực chiến để mở rộng kinh doanh, thương mại hóa công nghệ, quản trị vườn ươm và thành công trên nhiều khía cạnh khác. Mạng lưới gồm các cấp chính quyền, các cố vấn (mentors), nhà đầu tư, nhà cung cấp dịch vụ của ABI @ICRISAT đang ngày càng phát triển để giúp vườn ươm thực hiện sư mệnh cải thiện phúc lợi cho người nghèo. 

Quyết liệt và triệt để trên mặt trận nông nghiệp

5 dịch vụ ươm tạo chính của ABI @ICRISAT bao gồm: 

  1. Sản xuất giống toàn diện tại mỗi làng
  2. Đầu tư công nghệ cho nông dân nhỏ
  3. Ươm tạo giải pháp công nghệ sinh học
  4. Đầu tư mạo hiểm vào các doanh nghiệp sáng tạo 
  5. Khởi nghiệp không biên giới

1. Sản xuất giống toàn diện tại mỗi làng 

Nhằm đảm bảo nguồn cung cho các giống cây thụ phấn mở tại nông thôn, ABI @ICRISAT phát triển riêng một quỹ đầu tư để sản xuất giống tại mỗi làng, thôn, xã. Từ khâu nghiên cứu cho đến khâu xây dựng thương hiệu và đưa ra thị trường, ABI @ICRISAT thiết lập một hệ thống toàn diện, nhằm cung cấp đủ số lượng giống chất lượng cao cho người nông dân ở vùng khô hạn đúng thời gian, đúng địa điểm, với mức giá hợp lý nhất, mà vẫn bảo tồn được sự đa dạng của nguồn giống địa phương.

Hệ thống sản xuất giống toàn diện tại mỗi làng của Vườn ươm Doanh nghiệp Nông nghiệp ABI - ICRISAT
Hệ thống sản xuất giống toàn diện tại mỗi làng của Vườn ươm Doanh nghiệp Nông nghiệp ABI – ICRISAT.
Nguồn: http://www.icrisat.org/seed-systems-models-lessons-learned/.

2. Đầu tư công nghệ cho nông dân nhỏ

ABI @ICRISAT hỗ trợ 16 Tổ chức Nông dân với hơn 3.000 thành viên. Mỗi Tổ chức Nông dân sẽ tìm kiếm các hộ sản xuất nhỏ lẻ để giúp trang trại của họ tiếp cận với công nghệ hiện đại, nhằm tăng năng suất, tăng thu nhập theo hướng bền vững. 

ABI @ICRISAT cũng thúc đẩy liên doanh trang trại theo nhóm hợp đồng để canh tác hữu cơ. Vườn ươm sẵn sàng tư vấn kỹ thuật trồng trọt, giúp nông dân lập kế hoạch và quản lý vận hành, đào tạo nâng cao năng lực, và hơn hết là hỗ trợ tiếp cận thị trường thông qua mạng lưới đối tác. 

Một trường hợp được ươm tạo thành công điển hình là Công ty tư nhân kinh doanh thực phẩm hữu cơ Sresta Organic Food. Ngay từ đầu, Sresta định vị để trở thành đơn vị dẫn đầu trong ngành kinh doanh thực phẩm hữu cơ. Trong hơn 15 năm qua, Sresta đã hỗ trợ cho 45 nghìn nông dân Ấn Độ canh tác hữu cơ trên 91 nghìn héc-ta đất. Đọc thêm thông tin về Sresta Organic Food tại https://www.sresta.com/home1/

3. Ươm tạo giải pháp công nghệ sinh học

ABI @ICRISAT tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất giống tiếp cận các biện pháp công nghệ sinh học mới nhất, nhằm cải tiến các dòng cây dược liệu, cây cảnh và cây thân gỗ. Không chỉ đào tạo và tư vấn toàn diện về giải pháp, kỹ thuật, an toàn sinh học, …, ABI còn tài trợ chuyển giao công nghệ, cung cấp phòng thí nghiệm và các nhà màng hiện đại, phục vụ canh tác quanh năm. 

Một trường hợp ươm tạo thành công điển hình là công ty Bioseed Research India, đã nằm trong danh sách 5 công ty hàng đầu Ấn Độ và thâm nhập thành công vào nhiều thị trường quốc tế như: Việt Nam, Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a, Thái Lan, Băng-la-đét, Lào, Cam-pu-chia, Nê-pan và Trung Quốc. Tham khảo về công ty tại: http://bioseed.com/about-us.html

4. Đầu tư mạo hiểm cho doanh nghiệp sáng tạo 

ABI @ICRISAT xúc tiến đầu tư mạo hiểm vào các sản phẩm, dịch vụ độc quyền hoặc có tính chất sáng tạo và tiềm năng thị trường cao. Startup nông nghiệp không chỉ được nhận tư vấn kỹ thuật từ Viện ICRISAT, từ các doanh nghiệp đối tác của ABI, mà còn được sử dụng các cơ sở vật chất, hạ tầng cần thiết để phát triển sản phẩm mẫu (prototype), sau đó được cấp chứng nhận kiểm nghiệm chất lượng cho sản phẩm hoàn thiện. Startup cũng được tiếp cận vốn từ các ngân hàng, các nhà đầu tư mạo hiểm và các quỹ tài trợ hạt giống từ chính phủ. 

Một sản phẩm đặc sắc đã ươm tạo thành công là sản phẩm Chai xịt dầu ăn BR Cooking Spray. Sản phẩm mới lạ này đánh dấu bước đột phá về phát triển dầu ăn dưới dạng xịt. Chai dầu giúp tiết kiệm dầu ăn. Bên cạnh việc sử dụng như một công cụ nhà bếp, bạn thậm chí còn có thể dùng nó như là một dụng cụ phòng vệ cá nhân. Chi tiết xem tại https://www.indiamart.com/brcooking-sprays/aboutus.html.

5. Khởi nghiệp không biên giới

Đa phần các liên doanh nông nghiệp đều mong muốn tiếp cận thị trường quốc tế, tìm được những đối tác kinh doanh phù hợp và bền vững. ABI @ICRISAT giúp doanh nghiệp phối hợp với chính phủ và cơ quan quốc tế, cung cấp nghiên cứu thị trường, cho thuê phòng thí nghiệm, văn phòng và cơ sở vật chất với giá ưu đãi, tư vấn về cả công nghệ lẫn phương án phát triển kinh doanh, và kết nối doanh nghiệp vào mạng lưới sẵn có gồm các nhà máy sản xuất và đối tác dịch vụ tại địa phương. 

Trung tâm nghiên cứu và thí nghiệm tại Vườn ươm Doanh nghiệp Nông nghiệp ABI-ICRISAT
Trung tâm nghiên cứu và thí nghiệm tại Vườn ươm Doanh nghiệp Nông nghiệp ABI @ICRISAT
Nguồn: https://www.icrisat.org/

Khởi nghiệp + Tự chủ = Thành công

Vườn ươm ABI @ICRISAT càng phát triển thì càng độc lập về tài chính và năng lực thực thi, không còn phụ thuộc quá nhiều vào những tổ chức đỡ đầu của mình (ICRISAT và Bộ KHCN Chính phủ Ấn Độ). Từ việc hỗ trợ những doanh nghiệp nhỏ mang đến các công nghệ, nghiên cứu mới cho thị trường, ABI @ICRISAT đã trở thành vườn-ươm-cho-các-vườn-ươm khác. Cho đến năm 2019, vườn ươm này đã làm cố vấn cho 22 cơ sở ươm tạo ở các viện của Hội Đồng Nghiên cứu Nông nghiệp Ấn Độ, ở các đại học nông nghiệp nhà nước, và 11 vườn ươm về chế biến thực phẩm và chuỗi giá trị nông nghiệp ở 8 quốc gia châu Phi. Các nỗ lực ươm tạo doanh nghiệp nông nghiệp ở Việt Nam quả thực nên học hỏi từ những thành công của ABI @ICRISAT.

“Mục tiêu của ABI @ICRISAT trong 5 năm tới là có thể hỗ trợ thêm 100 startup nông nghiệp – công nghệ, mang lại lợi ích cho 10 triệu nông dân ở vùng nhiệt đới khô hạn và tạo ra tối thiểu 5.000 việc làm ở các ngành phi nông nghiệp.” 

Tiến sĩ Sharma – người đứng đầu vườn ươm ABI @ICRISAT, phát biểu năm 2019

Nguồn: Ngân hàng Thế giới. (2012). Hệ thống Đổi mới Nông Nghiệp: Một nguồn tài liệu đầu tư. World Bank Publicatión. Thông tin tổng hợp từ Hộp 5.19 Vườn ươm Doanh nghiệp Nông nghiệp ABI Agri-Business Incubator @ICRISAT


Các bài viết khác trong Chuyên đề Hệ thống Đổi mới Nông nghiệp:

[Dế Mèn Đi Học] Trường Hè Phát Triển Việt Nam 2020

[Dế Mèn Đi Học] Trường Hè Phát Triển Việt Nam 2020

Hãy tưởng tượng bạn là nhân viên văn phòng, là sinh viên, là bác sĩ, giáo sư, nhà báo, nhà giáo, là những người đang bị cuốn vào nhịp sống tất bật ở các thành phố lớn. Một ngày nọ, bạn bỗng nhiên được đi đến một nơi chỉ có núi, biển, ao hồ, cây xanh, cùng làm việc, học tập, sinh hoạt và chia sẻ về các vấn đề khoa học – kinh tế – xã hội cùng với những người đến từ các ngành nghề khác nhau trong xã hội.

Đó là những gì Khanh – một thành viên của team VCA, đã trải nghiệm tại Trường Hè Phát Triển Việt Nam (VSSD 2020).

Trường Hè Phát Triển Việt Nam được tổ chức lần đầu tiên tại Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục Liên ngành (ICISE) (Quy Nhơn – Bình Định) từ ngày 30/07 – 02/08. Trong thời gian này, các bạn trẻ từ khắp nơi được tham gia các buổi học đặc biệt được chia thành ba phần chính: chia sẻ kiến thức nền tảng về khoa học, kinh tế và xã hội; các chuyên đề về khoa học và công nghệ đổi mới sáng tạo, nông nghiệp và sinh kế, môi trường và biến đổi khí hậu, sức khỏe cộng đồng, giáo dục – văn hóa và nghệ thuật, xã hội hòa nhập; phần thuyết trình cuối khóa về các dự án cộng đồng để kêu gọi sự tham gia và hỗ trợ.

Ảnh: sưu tầm

Lần đầu tiên được tham gia tổ chức một sự kiện dài ngày với vai trò là facilitator – điều phối hỗ trợ học viên và giảng viên, bản thân Khanh cảm thấy như được trở về những ngày làm sự kiện thật “máu lửa” ở trường đại học. Công việc của người điều phối viên tại Trường Hè bao gồm những việc như đón tiếp các bạn học viên, hỗ trợ giảng viên và học viên trong các giờ học và sự kiện, hướng dẫn các học viên về nội quy và sinh hoạt. Trước diễn biến của dịch Covid tại Việt Nam, tất cả các thành viên trong Trường Hè đều phải nghiêm túc chấp hành các quy định chung như khai báo y tế trước khi nhập học, đeo khẩu trang, đo thân nhiệt hằng ngày, rửa tay thường xuyên để phòng tránh dịch bệnh. Có những lúc mọi người cảm thấy không thoải mái trước những khó khăn do dịch Covid mang lại, chẳng hạn như một số lớp học phải tổ chức online để đảm bảo sự an toàn cho Trường Hè, khiến cho sự kết nối giữa giảng viên và học viên không được thuận lợi như những lớp học offline, hay một số bạn học viên đã được nhắc nhở về việc phải mang khẩu trang ở trong lớp học, khi ra vào ở các khu vực tại ICISE. Nhưng mọi người vẫn thông cảm và cố gắng phối hợp cùng với Ban tổ chức để Trường Hè diễn ra thành công và tốt đẹp. Với vai trò là một phần của Trường Hè, Khanh thật sự cảm kích vì điều này.

Đối với bản thân Khanh, khoảng thời gian làm tình nguyện viên ở Trường Hè là một trong những trải nghiệm thật sự đáng nhớ. Không chỉ lần đầu tiên được “sống chậm” ở ICISE – nơi có cả núi cao, biển xanh, sông hồ và cây cối bao quanh, Khanh còn được “sống nhanh” với nhịp học tập và sinh hoạt của mọi người. Mỗi lần cùng nhau trải nghiệm, cùng nhau làm một việc gì đó tạo ra giá trị cho cộng đồng là mỗi lần bản thân như được sống trọn vẹn từng khoảnh khắc của tuổi trẻ. Khanh cảm thấy rất biết ơn và trân trọng những cơ hội như vậy.

Ảnh: sưu tầm

À, đồng hành với Khanh còn có một số VCA khác cũng tham gia Trường Hè lần này. Hồng Nhung – đồng thời là thành viên trong Ban tổ chức, chia sẻ “Có những thời điểm mình cảm thấy Trường Hè khó kết thúc thành công, nhưng các anh chị, các bạn đã cùng nhau động viên, giữ vững tinh thần, phối hợp nhịp nhàng để đón các giảng viên, sắp xếp lớp học, đồng hành cùng các học viên từ trên lớp đến sinh hoạt. Những cái siết tay, cái ôm đồng đội cùng với niềm tin được lan toả từ những người lãnh đạo cao nhất đến những em nhỏ nhất, và may mắn đã giúp chúng mình tổ chức một Trường Hè thật đáng nhớ.”.

Ngọc Dung, một thành viên VCA khác cũng là điều phối viên, đã rút ra bài học từ những việc nhỏ nhặt – “Khi kéo ghế xin hãy nhẹ nhàng. Dù chúng là vật vô tri vô giác, nhưng những chiếc ghế gỗ ở ICISE khiến mình cảm nhận được công sức của thầy Vân, cô Ngọc đã bỏ ra gầy dựng nên một trung tâm đẹp và ý nghĩa. Hay câu chuyện phân loại bát đũa trong bữa ăn sáng – mình đã xin thêm cái thau để đựng thức ăn thừa, và thấy vui khi những bữa ăn sau đó các cô nấu bếp đã chuẩn bị đầy đủ để học viên có thể bỏ rác và phân loại bát đũa đúng nơi quy định. Mình còn học được về sự im lặng quan sát thay vì vội vã phản ứng và cứng nhắc theo lối suy nghĩ “trắng đen rạch ròi”. Mình cảm được nhiều điều hơn thay vì bị đôi mắt đánh lừa. Cám ơn VSSD”.

Ảnh: Du amazing

Với góc nhìn của một học viên nhóm “Nông nghiệp và sinh kế”, Gia Ân – đồng thời cũng là một VCA chia sẻ “Tuy các học viên đến từ mọi miền trên đất nước nhưng đều mong muốn đóng góp vào dự án để hỗ trợ những người yếu thế hơn. Thông qua Trường Hè, mình ngày càng hiểu rõ hơn về việc mình đang làm, những công việc nhỏ nhưng đang dần hình thành và hoà vào bức tranh chung, đem đến những điều tốt đẹp cho những người khó khăn hơn mình. Quan trọng là chúng ta hãy đi cùng nhau để lan tỏa những giá trị đó đến cộng đồng nhiều hơn. Ở Trường Hè cũng có những anh chị nấu những bữa ăn thật ngon, ban tổ chức tận tình chu đáo, học viên nhiệt huyết cho đến những bài giảng xịn sò cùng đội ngũ giảng viên hết lòng và có tâm. Tất cả mọi thứ góp phần làm cho bức tranh Trường Hè trở nên rực rỡ hơn bội phần”.

Bên cạnh những trăn trở của Gia Ân về sinh kế cho người dân tộc thiểu số, niềm tin về con người được củng cố thêm ở Anh Thư qua chuyên đề của “Hòa nhập xã hội” – “Mình thấy may mắn vô cùng khi được gặp và nghe chia sẻ của các thầy cô, đặc biệt là chị Huệ Chi, thầy Lộc, anh Tú, anh Huy, chị Hạnh, và idol Đức Hoàng. Họ không chỉ giúp mình nhìn ra vấn đề mà còn cho mình thấy rằng vấn đề có thể được giải quyết. Dù khó khăn nhưng sẽ làm được nếu có kiến thức, kiên nhẫn, và quan trọng nhất là có niềm tin – niềm tin vào khả năng của con người”.

Trường Hè khép lại như một giấc mơ với bọn mình. Một giấc mơ có những sự yêu thương, biết ơn, sự sẻ chia đầy ấm ấp. Một giấc mơ có những giọt mồ hôi xen lẫn thật nhiều nụ cười tỏa nắng. Cám ơn anh Trần Thanh Sơn – phó Giám đốc trung tâm ICISE, người đã luôn hỗ trợ hết mình cho chương trình, cùng đội ngũ “thầm lặng” đứng sau những bữa ăn đầy đủ dinh dưỡng và sự an toàn tại Trường Hè. Cám ơn các thành viên trong Ban tổ chức, tình nguyện viên, các giảng viên, học viên đã cùng nhau tạo ra một mái trường thú vị và ý nghĩa, dù chỉ trong khoảng thời gian ngắn, nhưng đã tiếp thêm niềm tin vào những giá trị tốt đẹp trong xã hội, từ đó mọi người có thể cùng nhau lan tỏa những dự án tác động tích cực đến cộng đồng.

Tạm biệt VSSD 2020!

Ảnh: sưu tầm

Ghi chép kí sự từ VCA Khanh Trương

[Green Book] Những chiến lược sáng tạo về quản lý rủi ro trong tài chính nông nghiệp và nông thôn

[Green Book] Những chiến lược sáng tạo về quản lý rủi ro trong tài chính nông nghiệp và nông thôn

Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp trên phạm vi toàn cầu ngày càng tăng. Nếu ví tiền là máu, thì nông nghiệp chính là lá phổi đã bị tắc mạch trầm trọng trong một thời gian dài, chính bởi những rào cản đầu tư. Các rào cản này, dù là khoảng cách địa lý, sự thiếu hụt thông tin hay thiên tai bão lụt, đều khiến các đơn vị sản xuất, kinh doanh nông sản khó có thể tiếp cận các khoản đầu tư dài hạn vào nông nghiệp.

Trong nông nghiệp, các thất bại thị trường cốt lõi đến từ rào cản đầu tư được thể hiện rõ qua vòng lặp “được mùa mất giá, được giá mất mùa – giải cứu nông sản”, “nghèo lại hoàn nghèo” từ năm này sang năm khác. 

Nếu bạn là một trong những người đang dấn thân trong lĩnh vực Nông nghiệp, mong muốn có được cái nhìn trực diện mang tính thực tiễn vào bản chất kinh tế nông thôn và lời giải đáp mang tính hệ thống để vượt qua những rào cản trên, đồng thời giải quyết triệt để những vấn đề liên quan đến tài chính trong mô hình kinh doanh hiện tại của mình, thì quyển sách này là dành cho bạn.

Bìa sách ‘Những chiến lược sáng tạo về quản lý rủi ro trong tài chính nông nghiệp và nông thôn’ của FAO do Nhóm tình nguyện viên Green Book & Green Edu dịch

“Những chiến lược sáng tạo về quản lý rủi ro trong tài chính nông nghiệp và nông thôn” là một tập hợp các nghiên cứu của các chuyên gia tại Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) về xu hướng đầu tư tại châu Á. Quyển sách mở đầu bằng bức tranh toàn cảnh về tài chính nông thôn, sau đó giải thích những kiến thức kinh tế căn bản để phân tích sự tắc nghẽn đầu tư hiện tại.

Tiếp theo đó là 4 câu chuyện về những giải pháp sáng tạo tại 4 quốc gia. Ở Việt Nam, một cặp vợ chồng chân chất đã mở doanh nghiệp và cho vay qua hợp đồng thu mua, ổn định đời sống cho nhiều hộ dân Bắc Kạn. Ở Ấn Độ, một cổng đấu thầu điện tử và những chiếc ATM siêu nhỏ đã tiết kiệm thời gian và tăng lợi nhuận cho nông dân gấp nhiều lần. Ở Trung Quốc, đế chế Alibaba đã vận dụng hệ sinh thái và dữ liệu khổng lồ của mình để tiếp vốn cho những người trước giờ chưa bao giờ thỏa điều kiện để vay ngân hàng. Ở Philippines, các tổ chức vi tín dụng, cùng với chính quyền và kỹ thuật viên, đã hoạt động hiệu quả trong nhiều năm, rồi đúc kết ra các nguyên tắc chung mang lại thành công trong cho vay nông nghiệp.

CHƯƠNG 3: Những cải tiến về tài chính và đầu tư mở rộng trong phát triển nông nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Sauli Hurri, Quang Nguyen và Emilio Hernández

Nếu chúng ta tin rằng đại dịch COVID-19 chính là một lời nhắc nhở, rằng “công việc thực sự của chúng ta là chăm sóc lẫn nhau, bảo vệ lẫn nhau và mang lại lợi ích cho nhau” [1], thì quyển sách này là một bản thảo của những giải pháp sáng tạo mà chúng ta có thể áp dụng, nhằm mang lại lợi ích cho toàn chuỗi giá trị, cho toàn hệ thống sản xuất nhu yếu phẩm. 


Nội dung các chương sách:

  • CHƯƠNG 1: Xu hướng tăng trưởng ở khu vực nông nghiệp: dành cho những tổ chức tài chính chính thức. Emilio Hernández.
  • CHƯƠNG 2: Rào cản trong tài chính nông nghiệp và sự xuất hiện của các mô hình trung gian tài chính mới. Claudio González-Vega.
  • CHƯƠNG 3: Những cải tiến về tài chính và đầu tư mở rộng trong phát triển nông nghiệp ở Việt Nam. Sauli Hurri, Quang Nguyen và Emilio Hernández.
  • CHƯƠNG 4: Ứng dụng Công nghệ Thông tin và Truyền thông (CNTT & TT) vào quản lý rủi ro tại thị trường tài chính nông nghiệp Ấn Độ: trường hợp của các nền tảng thương mại điện tử và thanh toán điện tử. Nitin Puri và Pradeep Shrivastava.
  • CHƯƠNG 5: Tận dụng công nghệ và mạng lưới nông thôn để mở rộng cho vay tại nông thôn: kinh nghiệm của tập đoàn Alibaba ở Trung Quốc. Li Ni và Emilio Hernández.
  • CHƯƠNG 6: Hai trường hợp thực tế của các chương trình cho vay nông nghiệp tại Philippines có sử dụng phương pháp quản trị rủi ro hiệu quả. Carlos Ani và Silvestre Andales.
  • CHƯƠNG 7: Kết luận chung – chính sách công để thúc đẩy thị trường tài chính và nông nghiệp ở nông thôn trở nên toàn diện hơn. Emilio Hernández.

Bạn có thể tìm đọc sách miễn phí bằng cách gửi mail về [email protected] hoặc truy cập  http://bit.ly/FAO_Những_chiến_lược_ST. (Các bạn vui lòng copy link và paste, đừng click vào link, ko chuyển đến link sách, do thuật toán bị thay đổi.)

Những chiến lược sáng tạo về quản lý rủi ro trong tài chính nông nghiệp và nông thôn là quyển sách đầu tiên của dự án Green Book, được chuyển ngữ từ bản gốc tiếng Anh, tựa đề Innovative Risk Management Strategies in Rural and Agriculture Finance do Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO) ấn hành năm 2017.

Dự án Green Book xin gửi lời cảm ơn đến các bạn trẻ đã tình nguyện đóng góp thời gian và công sức vào việc chuyển ngữ quyển sách này: Đặng Công Trí, Nguyễn Nữ Diệu Ái, Nguyễn Thị Thanh Hiền, Trần Nguyễn Hoàng Tú, Vũ Anh Nga, chị Nguyễn Đặng Hoàng Lan, chị Lại Thị Mai Trâm, và đội ngũ các bạn Cộng sự Chuỗi giá trị của Green Edu.


[1] Thông tin về lá thư từng được cho là của Bill Gates viết về virus corona, vốn chiếm được sự đồng cảm của nhiều người trên toàn thế giới: https://phatgiao.org.vn/thong-diep-sau-sac-cua-bill-gates-ve-virus-corona-d40720.html