[Dế Mèn Du Ký] Doanh nghiệp Minh Bê: Đượm tình thương lái đồi gừng

[Dế Mèn Du Ký] Doanh nghiệp Minh Bê: Đượm tình thương lái đồi gừng

Lúc chúng tôi đến nơi cũng là lúc mặt trời đã xuống núi. May mắn thay, hôm đấy là sinh nhật của bác gái nên bác Minh ở nhà tổ chức sinh nhật, mà không lên Hà Nội tham dự tổ chức họp mặt thường niên với CSIP (Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng Đồng). Bữa tối thịnh soạn với những món đặc sản miền núi như thịt cuốn lá mắc mật, rượu ngô, canh rau dền núi, món khoái khẩu nhất là canh gà lá ngót. Tôi cùng bác gái bật đèn pin đi ngắt lá ngót trong vườn rau trước sân. Lá ngót to và xanh mơn mởn – tôi chưa thấy rau ngót ở đâu mà đẹp hơn ở đây. Và dĩ nhiên tô canh ấy hết veo chỉ trong vài nốt nhạc. 

Bác Bàn Văn Minh và bác gái Trần Thị Bê thành lập Doanh nghiệp Tư nhân Xuất khẩu & Chế biến Nông sản Minh Bê tại phường Xuất Hoá, thành phố Bắc Kạn vào năm 2011. Tuy vậy, hai bác đã gắn kết với mảnh đất và bà con nơi đây từ lâu hơn thế rất nhiều. “Kể tôi không có bằng cấp gì cả, nhưng gắn liền với nông dân từ đó đến nay cũng được chục năm. Tôi cung cấp giống và hỗ trợ vay vốn cho bà con quanh đây,” bác Minh tâm sự.

Đá nhiều đất ít

Bác Bê là một người con gái tần tảo của vựa lúa Thái Bình, còn bác Minh là một người con trai bản Dao trung dũng của Tân Sơn. Ở xã Tân Sơn, đá nhiều đất ít. Vào mùa khô, đất khô nỏ đến cây ngô cũng khó sinh sôi. Tại đây, hai vợ chồng bác đã thử xoay sở bằng nhiều cách, trồng chuối, trồng ngô, …, mà kinh tế vẫn khó khăn.

Ảnh 1: Vợ chồng bác Minh và bác Bê đứng trước Xưởng chế biến gừng.
Nguồn: Nhóm Dế Mèn Du Ký, tháng 5/2019.

Vào năm 1991, hai bác trồng thử gừng. Gừng hợp đất, phát triển tốt. Lứa gừng đầu tiên với số lượng ít ỏi nhanh chóng được tiêu thụ sạch tại thị xã Bắc Kạn (nay là thành phố Bắc Kạn). Dần dần, hai bác vận động bà con xung quanh cùng trồng. Bà con cần tới đâu thì hai bác cố gắng đứng ra đáp ứng tới đó, từ hỗ trợ vốn, giống, vật tư cho bà con sản xuất, tới bao tiêu đầu ra. Vào năm 2011, Doanh nghiệp Minh Bê chính thức được ra đời.

Người Tây khôn lắm

Năm 2012, thông qua Dự án 3PAD (Dự án quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp), Doanh nghiệp của bác Minh đã được đầu tư 3,5 tỷ đồng. Nguồn vốn đến từ IFAD (Quỹ Quốc tế về Phát triển Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc) và APIF (Quỹ Xúc tiến Đầu tư Nông lâm nghiệp).

“Người Tây khôn lắm,” bác Minh cười. “Họ tính trước mình nhiều bước. Doanh nghiệp phải có đầy đủ năng lực, kinh nghiệm, là đầu tàu kinh tế, thì họ mới đầu tư. Tôi hướng dẫn bà con cách trồng, cách thu hoạch, rồi bao tiêu sản phẩm đầu ra. Trước đây trồng ngô, lúa chỉ đủ ăn, khỏi đói, thì từ khi đưa cây gừng lên trồng, bà con mới dần thoát nghèo được.”

32% tổng vốn nhận được, doanh nghiệp sẽ dùng mà hỗ trợ cho bà con nông dân nghèo khó. 68% còn lại thì doanh nghiệp dùng để tái đầu tư vào nhà xưởng, sân phơi, hệ thống máy móc thiết bị. “Trước kia hỗ trợ người nghèo thì cho tiền, nhưng rồi dân nghèo dùng tiền đó mua rượu uống cũng hết, nghèo vẫn hoàn nghèo,” bác Bê kể. Nay, bà con được vay vốn, được hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, rồi được đảm bảo đầu ra, nhờ những mối quan hệ mà Doanh nghiệp Minh Bê đã gầy dựng với các thương lái ở Hà Nội và Công ty Xuất khẩu Hải Dương. Những ngôi nhà mới mọc lấp ló trên đỉnh đồi là thành quả của những nỗ lực suốt hơn 20 năm của người dân nơi này. 

Hào hứng xưởng gừng

Sáng hôm sau, bác Minh đưa chúng tôi đi tham quan nhà xưởng và vùng trồng gừng. Vào khu phân loại, có hai cô nhân công đang ngồi tách mầm gừng ra và phân loại. Mầm gừng thì đem về miền xuôi bán cũng khá được tiền, 70.000 – 80.000 VND/kg. Bác Minh kể vùng này gừng không đủ số lượng để vận chuyển cho một cuốc xe, phải chờ mua ở vùng khác đến, rồi đi chung. Gừng thích mọc mầm, nên phải tách mầm ra thì mới bảo quản được lâu. Những bọc gừng 50kg đã qua xử lý như vậy được xếp thẳng tắp giữa gian nhà, sẵn sàng chờ xuất xưởng. 

Ảnh 2: Củ gừng tươi cùng mầm gừng, trên nền là những bao gừng thẳng tắp.
Nguồn: Nhóm Dế Mèn Du Ký, tháng 5/2019.

Lúc vào mùa, hàng dồn dập về, nếu không kịp bán thì bác sẽ cho đem đi sấy để kéo dài vòng đời cho sản phẩm. Bác Minh hào hứng chỉ cho chúng tôi khu vực máy sấy gừng khí sạch. Bác đã đầu tư 300 triệu đồng và thuê kỹ sư ở tận Hà Nội lên để thiết kế thi công. Tuy nhiên, vào những mùa không có gừng, chiếc máy này chẳng được ai được sử dụng. Chỉ nghe cách bác kể về chiếc máy sấy, chiếc xe chở hàng, chúng tôi cũng thấy được rằng bác đã trăn trở, tìm tòi rất nhiều để tăng giá trị cho thành quả của người dân quanh đây.

Cầu nối

Được gặp bác, được cảm tấm lòng bác dành cho cây gừng, chúng tôi mới hiểu tại sao người dân nơi đây “có bảo với họ là không có chỗ để chứa nữa rồi, đưa đi chỗ khác cân, nhưng họ có chịu đâu”. Họ vẫn chọn bán cho xưởng gừng nhà bác. Lòng tin được bồi đắp qua bao năm gắn bó giữa hai bác và bà con là cơ sở để những khoản vay vốn, vay giống được thông qua, mà không cần bất kỳ giấy tờ thế chấp nào.

Ảnh 3: Bác Huệ, một người nông dân trồng gừng, miêu tả cách canh tác.
Nguồn: Nhóm Dế Mèn Du Ký, tháng 5/2019.

Hơn nữa, tính pháp lý và sự nhanh nhạy của doanh nghiệp Minh Bê là cơ sở để những đối tác khác của chuỗi giá trị, từ đơn vị xuất khẩu đến các tổ chức phi chính phủ, sẵn sàng bắt tay để ký hợp đồng đầu tư.

Thị trường gia vị ngày nay càng nhộn nhịp hơn xưa. Ngoài những đất nước sản xuất chính như Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ, trong những năm gần đây, các đảo quốc ở vùng biển Caribe, cũng như Brazil và Peru, đang tăng cường quảng bá sản phẩm gừng hữu cơ để xuất khẩu vào Mỹ. Các nước nhỏ như Nepal, Indonesia, cũng đang tìm đường xuất khẩu vào châu Âu và Liên bang Nga, đặc biệt là thông qua Hà Lan, vốn là một cửa ngõ quan trọng cho nhiều mặt hàng nông sản.

Để những hộ nông dân nhỏ lẻ cũng có thể tham gia vào các chuỗi giá trị nông nghiệp xuyên quốc gia này, những doanh nghiệp như của hai vợ chồng bác Minh, bác Bê là một cầu nối vô cùng quan trọng.

Doanh nghiệp Minh Bê là một ví dụ điển hình cho thành công của một chuỗi giá trị nông sản có sự chung tay của cả người nông dân, người thương lái và các tổ chức hỗ trợ trong và ngoài nước. Mô hình này, còn được biết đến với tên gọi mô hình tài chính vi mô thông qua doanh nghiệp, sẽ được phân tích cụ thể hơn trong bài viết tiếp theo của Green Edu. Mong các bạn đón xem!

Bài viết được tổng hợp từ cuộc phỏng vấn tại Doanh nghiệp Minh Bê vào tháng 5/2019, và các nguồn tham khảo sau:

Âu Vượng (2014). Báo Nông nghiệp Việt Nam: Vị ngọt của gừng. nongnghiep.vn.

Hurri, S., Nguyen, Q., Hernández, E. (2019). Những cải tiến về tài chính và đầu tư mở rộng trong phát triển nông nghiệp ở Việt Nam. Những chiến lược sáng tạo về quản lý rủi ro trong tài chính nông nghiệp và nông thôn (pp. 31-56). Nhà xuất bản Nông nghiệp. http://www.fao.org

Tuấn Sơn (2018). Báo Bắc Kạn: Thơm hương cây gừng vùng cao. baobackan.org.vn.

YES BANK and IDH (2018) Business Case for Spices Production & Processing in Meghalaya, Mizoram, Nagaland and Uttarakhand.

[CGT] HÀNH ĐỘNG THẾ NÀO LÀ HIỆU QUẢ?

Chuỗi giá trị cho chúng ta một cái nhìn bao quát, giúp ta phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới quyết định của một tổ chức hay ngành nghề. Từ đó, ta có thể lên kế hoạch toàn diện và hiệu quả hơn, tác động đúng nơi, đúng thời điểm hơn, cho nông nghiệp và cho cả thiên nhiên nữa.

Mỗi chúng ta

Mỗi chúng ta đều có chung những nhu cầu như được sống, được tự do, được mưu cầu hạnh phúc [1], được đóng góp cho tập thể [2]. Theo Will Grant, mỗi người đều có thể đóng góp ở 4 mức độ hành động cơ bản như sau [3]:

1. Hành động đơn lẻ: Chúng ta có thể tái chế rác, tiết giảm tiêu dùng các sản phẩm có hại cho môi trường.

2. Hành động cùng gia đình và bạn bè: Chúng ta có thể kêu gọi những người thân cùng làm những hành động đơn lẻ trên, hoặc dùng năng lượng mặt trời cho cả gia đình, hoặc cùng nhau mua chung thực phẩm để hỗ trợ những nông trại sản xuất giảm thiểu hóa chất tổng hợp.

3. Hành động cùng cộng đồng và tổ chức địa phương: Chúng ta có thể vận động trường học hoặc công ty của mình tổ chức thêm các chương trình ngoại khóa, hoặc vận động khu phố trồng thêm cây cho công viên, hoặc cố gắng sắp xếp để gặp được Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận, huyện, Tỉnh, thành nhằm nêu ra ý kiến. Ở mức độ này, chúng ta tác động đến tập thể và tổ chức, nhưng vẫn được biết tới như một con người bằng xương bằng thịt thông qua gặp gỡ, nói chuyện, …

4. Hành động cùng nền kinh tế và luật pháp: Chúng ta có thể bầu cử, nộp đơn khởi kiện các đơn vị gây ô nhiễm như Formosa, tham gia các tổ chức vận động điều chỉnh luật, tổ chức các phong trào tẩy chay sản phẩm, bãi công, …

Video: Grant, W. (2018). Four Levels of Action.
Nguồn: Southern Oregon Drawdown Youtube Channel.

Trong các phong trào yêu cầu quyền lợi cho các nhóm yếu thế, bị áp bức như công nhân, người dân các nước thuộc địa,  trẻ em, và gần đây hơn là cho môi trường và sinh vật sống, các hành động ở mức độ 1 và 4 thường được nhấn mạnh.

Tuy vậy, chúng ta có sức ảnh hưởng lớn nhất ở mức 2 và 3, đặc biệt là ở mức 3. Khi chúng ta thay đổi một tổ chức địa phương mà chúng ta là một thành viên, chúng ta không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống của chính mình, mà còn là của vài chục, vài trăm, có khi vài ngàn người khác. Những thí nghiệm mẫu này có thể làm ví dụ cho các tổ chức khác làm theo.

Chẳng hạn, chúng ta muốn phủ xanh trường học, công ty hay khu phố của mình. Đó là một việc có thể làm được. Chúng ta có thể làm dự án đó từ đầu đến cuối trong một, hai năm. Chúng ta có thể nói chuyện với từng người có liên quan, có thể tính toán chi phí, có thể kêu gọi thêm vài người cùng giúp. Và chúng ta có thể làm vào giờ rảnh, không cần làm việc này toàn thời gian.

Chính các cuộc nói chuyện, các tương tác đó là mấu chốt của thay đổi. Sự trao đổi suy nghĩ, mong muốn của từng người cũng có ích như việc phủ xanh vậy. Chúng ta dần nhận ra chí ít thì cũng có thể làm một cái gì đó. Và nếu một ngôi trường, một công ty làm được, những ngôi trường và công ty khác cũng sẽ đặt câu hỏi là họ có làm được không, và biết đâu đó sẽ trở thành tiêu chuẩn cho cả quận, cả ngành.

Hình 1: Nhà khoa học Nguyễn Thanh Mỹ giới thiệu Tập đoàn Mỹ Lan, chuyên sản xuất phân bón và thiết bị nông nghiệp thông minh, sản phẩm hóa dược, và quang điện tử cho thị trường trong nước và quốc tế. Toàn bộ nước thải của Mỹ Lan đều được xử lý bằng những phương pháp sinh học tiên tiến nhất, gồm các loại cây cỏ và đá tự nhiên. Tập đoàn Mỹ Lan đã dẫn đầu toàn tỉnh Trà Vinh không chỉ về công nghệ mà còn về giá trị cho nhân viên và môi trường.
Nguồn ảnh: nhipcaudautu.vn. Nguồn tin: cafebiz.vn.

Mỗi doanh nhân

Khái niệm “chuỗi giá trị” nằm trong hệ tư tưởng về chiến lược kinh doanh của Michael Porter [4]. Áp dụng đúng cách, phân tích chuỗi giá trị sẽ giúp mỗi doanh nghiệp tăng biên độ lợi nhuận và giảm rủi ro.

Lấy một ví dụ – ngành rau củ quả tại Việt Nam, vốn gặp nhiều áp lực cạnh tranh [5], dẫn đến biên độ lợi nhuận thấp. Về mặt thị trường, người mua có thể gây áp lực vì họ có nhiều sự lựa chọn – rất nhiều cơ sở có thể trồng và bán rau củ quả. Ngoài ra, họ có thể từ chối mua hàng trong một vài ngày, và mặt hàng tươi sống sẽ hư hỏng và bị giảm giá trị rất nhiều. Về mặt vật tư, số nông dân luôn nhiều hơn số cơ sở có khả năng sản xuất phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Do đó, người nông dân ít có khả năng thương lượng giá.

Mỗi doanh nhân có thể áp dụng khái niệm “chuỗi giá trị” để bổ sung cho một khái niệm cũ hơn là “chuỗi cung ứng”. Với góc nhìn của chuỗi cung ứng, doanh nghiệp sẽ tập trung vào đo lường và tối ưu hóa quá trình vận hành, bằng cách phối hợp các cấu phần như nhà xưởng, kho, và phương tiện vận tải, nhằm sản xuất và phân phối hàng hóa đến đúng nơi trong thời gian ngắn nhất, với giá thành thấp nhất, và chất lượng đảm bảo [6].

Với góc nhìn “chuỗi giá trị”, không chỉ đơn thuần là tối ưu hóa năng suất, doanh nghiệp sẽ tập trung vào các hoạt động như phân tích xu hướng thị trường và nghiên cứu phát triển sản phẩm mới. Bằng cách mang lại những giá trị cao hơn, chính xác hơn so với nhu cầu của khách hàng, mỗi doanh nhân có thể tạo ra các tiểu ngành có biên độ lợi nhuận cao hơn, như thực phẩm chức năng, chế phẩm sinh học, …

Hình 2: Mỹ chũ rau củ được chế biến từ nguyên liệu thô để nâng giá trị.
Nguồn: https://www.facebook.com/Taman-Eco-111235907032555

Ngoài ra, ngành nông nghiệp vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn các ngành hàng khác, do nguy cơ thời tiết, khoảng cách địa lý, các vấn đề về cấu trúc như thiếu hụt thông tin và dòng vốn ở nông thôn, … [7] Khả năng phản ứng của vùng sản xuất thường đi chậm so với thay đổi của các mắt xích khác, ví dụ nếu thị trường đột ngột tẩy chay thịt heo do một loạt phóng sự về lò giết mổ, hoặc nhà máy đột xuất yêu cầu tăng khối lượng để đáp ứng đơn hàng, thì người nuôi trồng không kịp trở tay. Sử dụng mô hình chuỗi giá trị sẽ giúp chúng ta lường trước được các nguy cơ rủi ro, và áp dụng các biện pháp giảm thiểu rủi ro hợp lý như bảo hiểm, đa dạng hóa, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, …

Hình 3: Hạn mặn khốc liệt hầu như đã bao trùm khắp các tỉnh ĐBSCL, hàng nghìn héc ta lúa đông xuân 2019 – 2020 nguy cơ mất trắng.
Nguồn: tienphong.vn

Mỗi nhà công tác xã hội

Các thảm kịch của môi trường, đói nghèo, bất bình đẳng, …, đều là phần nổi của một tảng băng chìm gồm các yếu tố mang tính hệ thống, phụ thuộc lẫn nhau. Để giải quyết chúng, các biện pháp cứu trợ ngày càng nhường chỗ cho các biện pháp bồi đắp và phát huy nội lực của cộng đồng.

Hơn nữa, với tần suất và biên độ ngày càng tăng của các biến động trên thế giới, chẳng hạn như những đợt giá nông sản và giá dầu vọt lên hoặc sụt xuống ngoài tầm kiểm soát, những ảnh hưởng nặng nề và khó lường trước của biến đổi khí hậu, dịch bệnh truyền nhiễm, cũng như tốc độ của phát triển công nghệ và toàn cầu hóa – đô thị hóa, giải pháp cho các vấn đề xã hội không thể chỉ đến từ một bên thứ ba, mà chính là từ khả năng cải tiến, thích ứng kịp thời của cộng đồng thụ hưởng.

Các cải tiến thường xuất hiện thông qua tương tác giữa nhiều tác nhân, đến từ nhiều góc nhìn và có nhiều kỹ năng, nguồn lực khác nhau. Mô hình chuỗi giá trị cho chúng ta thấy các nhóm tác nhân và mối quan hệ giữa họ. Từ đó, chúng ta không chỉ có thể xác định chuỗi giá trị nào, tác nhân nào sẽ là then chốt để can thiệp và hỗ trợ đúng chỗ, mà còn có thể tạo ra các sân chơi cho những tác nhân này tương tác với nhau, làm nền tảng để họ có cơ hội hợp tác và sáng tạo


[1] Hồ, C. M. (1945). Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

[2] Max-Neef, M. A. (1992). Human scale development: conception, application and further reflections (No. 04; HC125, M3.).

[3] Grant, W. (2018). Four level of actions. Theo https://connect.pachamama.org/way-3, truy cập ngày 25/04/2020.

[4] Porter, M. E., & Advantage, C. (1985). Creating and sustaining superior performance. Competitive advantage, 167, 167-206.

[5] Porter, M. E. (2008). The five competitive forces that shape strategy. Harvard business review, 86(1), 25-40.

[6] Bolstorff, P., & Rosenbaum, R. (2003). Supply chain excellence: A handbook for dramatic improvement using the SCOR model. Journal of Supply Chain Management, 39(4), 38.

[7] Hernández, E. (2017). Những chiến lược sáng tạo về quản lý rủi ro trong tài chính nông nghiệp và nông thôn: Kinh nghiệm ở Đông Nam Á. NXB Nông Nghiệp. Nhóm dịch Green Edu dịch từ tài liệu gốc của FAO.

[CGT] CHUỖI GIÁ TRỊ LÀ GÌ?

Chuỗi giá trị là một mô hình diễn tả các hoạt động gia tăng giá trị cho nguyên liệu đầu vào, để tạo thành sản phẩm đầu ra cho khách hàng.

Mô hình chuỗi giá trị cơ bản

Khái niệm “chuỗi giá trị” được phổ biến đầu tiên vào năm 1985 bởi Michael Porter, nhằm đưa ra một góc nhìn mới trong vận hành doanh nghiệp. Một chuỗi giá trị cơ bản gồm các hoạt động chính yếu như Kho vận đầu vào, Sản xuất, Kho vận đầu ra, Tiếp thị, Bán hàng và Dịch vụ, cùng với các hoạt động hỗ trợ như Quản lý nhân sự, Pháp lý, Tài chính, Công nghệ, …

Hình 1: Mô hình chuỗi giá trị cơ bản (Nguồn: Green Edu JSC.)

Mô hình chuỗi giá trị nông nghiệp

Một chuỗi giá trị nông nghiệp thường bao gồm các mắt xích chính như: vật tư đầu vào, vùng sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi, v.v.), hệ thống thương lái và chợ đầu mối, nhà máy chế biến, thị trường bán sỉ và bán lẻ. Các cấu phần hỗ trợ gồm các chính sách, gói đầu tư, nguồn nhân lực và công nghệ, …

Hình 2: Một ví dụ của mô hình chuỗi giá trị nông nghiệp cho ngành trồng trọt
(Nguồn: Green Edu JSC.)

Mô hình chuỗi giá trị nông nghiệp thường được các tổ chức phát triển quốc tế như World Bank (Ngân hàng Thế giới), FAO (Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc), ILO (Tổ chức Lao động Quốc tế), GIZ (Tổ chức Hợp tác Quốc tế CHLB Đức), ICA (Liên minh Hợp tác xã Quốc tế), … sử dụng để xác định rằng các gói hỗ trợ phát triển nên được áp dụng cho đối tượng nào, dưới hình thức ra sao, là hiệu quả nhất.

Trong clip dưới đây, ILO giới thiệu cách mà Tổ chức Lao động Quốc tế giúp một hộ nông dân nghèo ở Đông Timor, thông qua phương pháp phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp . Nhận thấy rằng bác nông dân Gil tuy làm việc vất vả mà vẫn không đủ ăn, cô Amivi, cán bộ của ILO, bèn tìm hiểu, phỏng vấn toàn bộ các mắt xích của chuỗi giá trị. Cô phát hiện rằng bác Gil không được tiếp cận nhiều thông tin thiết yếu, ví dụ như cách canh tác hiệu quả hơn, vốn chỉ có ở thị trường cuối. Cô Amivi liền sắp xếp để một nhà phân phối nông sản nhỏ, Erin, bước vào làm cầu nối giữa bác Gil và thị trường, thông qua việc hỗ trợ vật tư đầu vào chất lượng, hướng dẫn cách trồng, và đưa sản phẩm đến người mua. Điều này giúp tăng thu nhập và cải thiện điều kiện làm việc của bác Gil và các hộ nông dân khác.

Clip giới thiệu phương pháp phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp của ILO.
(Nguồn: International Labour Organization Youtube’s Channel)

Chuỗi giá trị sữa của Costa Rica đã ra đời như thế nào?

Costa Rica, một rải đất eo hẹp nối liền Bắc Mỹ và Nam Mỹ, vào những năm cuối của thập niên 40 vẫn còn những cuộc nổi dậy vũ trang đẫm máu giành chính quyền. Trong chính thời kỳ đó, giá thu mua sữa thường xuyên trồi sụt, khiến cho nhiều trang trại lao đao. Sữa là một mặt hàng dễ hư hỏng. Người nông dân bị buộc phải bán dù có lỗ bởi vì không thể bảo quản sữa được lâu. Giá vật tư đầu vào cũng bị định đoạt bởi các nhà cung cấp.

Vào năm 1947, một nhóm gồm 25 nông dân nuôi bò đã cùng nhau lập ra hợp tác xã Dos Pinos, nhằm yêu cầu giá cả chính đáng hơn cho cả vật tư đầu vào và sữa đầu ra. Trong 4 năm đầu, hợp tác xã này chỉ có thể tập trung vào cung cấp thức ăn chăn nuôi cho các trang trại thành viên, nhằm giảm giá thành sản xuất. Đến năm 1951, Dos Pinos mới tích lũy đủ vốn để xây nhà máy tiệt trùng và đóng chai đầu tiên, góp phần bao tiêu đầu ra cho nông hộ.

Từ năm 1953 đến nay, Dos Pinos không ngừng mở rộng danh mục sản phẩm, gồm kem, sữa bột, bơ, … Song song đó, các vùng sản xuất tập trung ở mỗi miền đất nước cũng được hình thành, hệ thống phân phối gồm cửa hàng, siêu thị được phát triển, không chỉ trong nước, mà còn tiến ra khu vực, thông qua việc thu mua, sát nhập các công ty sữa nước ngoài. Đến nay, từ 25 nông dân ban đầu, Dos Pinos đang thu mua sữa từ hơn 1.400 nhà sản xuất liên kết trên toàn quốc, có hơn 5.000 nhân viên trong khu vực, và hằng năm chế biến hơn 85% lượng sữa của toàn Costa Rica.

Clip quảng cáo kem Krunchy của Dos Pinos trong thập niên 70. (Nguồn: Youtube)

 Costa Rica vốn được biết đến như một trong những đất nước cam kết phát triển xanh mạnh mẽ nhất của toàn Châu Mỹ, và câu chuyện của Dos Pinos cũng không là ngoại lệ. Tất cả các nhà máy của Hợp tác xã Dos Pinos, tức Hợp tác xã Hai Cây Thông, đều được chứng nhận tiêu chuẩn môi trường danh giá ISO 14001. Để làm được điều này, không chỉ nhân viên nhà máy, mà các nông hộ sản xuất sữa cũng thường xuyên được đào tạo và khích lệ để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

Năm 2019, Dos Pinos đóng góp khoảng 2% vào tổng GDP của Costa Rica, và lượng tài sản của hợp tác xã này được sở hữu bởi hơn 2.000 thành viên, trong đó có khoảng 1.500 là các nông dân, trên 80% chỉ sở hữu trang trại nhỏ hoặc vừa.

Trong hơn 50 phát triển của mình, các hộ nông dân của Dos Pinos đã nối dài chuỗi giá trị, từ chỉ đơn thuần cung cấp sữa tươi, đến chế biến, phân phối và cả các dịch vụ khác – góp phần mang đến những giá trị thiết thực không chỉ cho người nông dân và khách hàng, mà còn cho cả môi trường sống.

Tài liệu tham khảo:

Evans, M. (2012). The Delicious History of Dos Pinos, Costa Rica’s Dairy Brand of Choice. Theo https://news.co.cr/the-delicious-history-of-dos-pinos-costa-ricas-dairy-brand-of-choice/10971/, truy cập ngày 07/05/2020.

Hợp tác xã Sản xuất Sữa Dospinos: https://www.cooperativadospinos.com/.

Martinez-Piva, J. M., & Zúñiga-Arias, G. (2014). Economic Integration and Value Chain: Case study from Central America Dairy. Global value chains and world trade: Prospects and challenges for Latin America. Santiago: ECLAC, 2014. LC/G.2617-P. p. 163-183.

Porter, M. E., & Advantage, C. (1985). Creating and sustaining superior performance. Competitive advantage, 167, 167-206.

[TUYỂN DỤNG] Green Edu mở tuyển dụng nhiều vị trí

[TUYỂN DỤNG] Green Edu mở tuyển dụng nhiều vị trí

Green Edu là một doanh nghiệp xã hội với sứ mệnh cải thiện hệ sinh thái khởi nghiệp và nguồn nhân lực trong ngành nông nghiệp định hướng theo chuỗi giá trị và thị trường.

Cùng chia sẻ giá trị “WE – Chúng tôi” với đội ngũ nhân viên và cộng sự xây dựng và hướng tới một mục tiêu chung: giải quyết các vấn đề của Nông nghiệp – Nông thôn – Nông dân góp phần nâng cao sức cạnh tranh và thu nhập, kiến tạo một nông thôn mới với cơ hội mới cho mọi người. Hiện tại, Green Edu đang tìm kiếm các ứng viên cho nhiều vị trí, cụ thể như sau:

Trợ lí: http://bit.ly/AssistantGE

Cộng sự Chuỗi giá trị: http://bit.ly/GEVCA

Nhân viên tuyển dụng: http://bit.ly/GERecruiter

Site Admin: http://bit.ly/GEAdmin

Well-being Manager: http://bit.ly/WBManager

Grant-researcher: http://bit.ly/GEReasearcher

Tình nguyện viên VCA tại Trà Vinh: http://bit.ly/TNVVCA

IT Senior: http://bit.ly/ITSenior

IT Entry: http://bit.ly/ITEntry

Multimedia Designer: http://bit.ly/GEDesigner

Các ứng viên cho các vị trí trên sẽ được làm việc tại văn phòng chính số R4-08 Khu phố Hưng Gia 1, quận 7, HCM. Riêng vị trí TNV VCA sẽ làm việc trực tiếp tại Trà Vinh.

CÁCH THỨC ỨNG TUYỂN
Để ứng tuyển, vui lòng gửi email với tiêu đề “[GREENEDU]_[Vị trí]_Họ và tên” đến [email protected] với CV và Thư ứng tuyển.
DEADLINE: 31/07/2019
Chúng tôi luôn chào đón những ứng viên phù hợp với tầm nhìn và sứ mệnh của tổ chức.

Successful applicants will be invited to the next round on a rolling basis.
Due to the high number of applicants, we can only answer to successful candidates.
Thank you for your understanding.

Tìm hướng đi bền vững cho doanh nghiệp tạo tác động xã hội trong nông nghiệp

Tìm hướng đi bền vững cho doanh nghiệp tạo tác động xã hội trong nông nghiệp

Buổi đàm đạo xanh đầu tiên về Green School

Buổi đàm đạo xanh đầu tiên về Green School

Green Talk – buổi đàm đạo Xanh tổ chức bởi Green Edu được diễn ra vào ngày 6/1/2019 tại Viện kinh tế nông nghiệp hữu cơ với sự tham gia đông đảo của nhiều khách mời thuộc các lĩnh vực khác nhau nhưng đều có chung một mối quan tâm lớn đến sự phát triển bền vững và tư duy lãnh đạo xanh.

Buổi đối thoại Xanh may mắn mời được hai vị khách vốn là những người đi tiên phong trong lĩnh vực đào tạo và giáo dục bền vững: Tim Fijal & Huỳnh Hạnh Phúc – đại diện cho hai tổ chức Xanh đến từ Bali, Indonesia và Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Buổi đối thoại được mở đầu bằng những câu chuyện mang nhiều cảm hứng xanh đến từ hai vị khách quý. Đó là câu chuyện về Ngôi Trường Xanh có một không hai trên thế giới với không gian thân thiện và toàn bộ cơ sở vật chất hầu như được xây dựng từ những vật liệu gần gũi thiên nhiên, thân thiện với môi trường. Hơn thế nữa, ở ngôi trường ấy, những câu chuyện về sự phát triển bền vững không bao giờ có hồi kết, những dự án xanh được lồng ghép vào tất cả các giờ lên lớp của học sinh cũng như được khuyến khích mạnh mẽ trong cả cuộc sống của cộng đồng dân cư sinh sống gần trường. Đó còn là câu chuyện về một tổ chức non trẻ Green Edu nhưng với đội ngũ đầy tâm huyết, năng lực và sáng tạo. Green Edu đang mỗi ngày một vươn mình mạnh mẽ hơn để góp phần tạo nên những thay đổi lớn trong cộng đồng những người nông dân, hướng trái tim người trẻ về quê hương, chung tay góp sức vì một tương lai Việt Nam xanh, với lối sống hào sảng, nông thôn mới, cơ hội mới.

Từ hai câu chuyện đầy cảm hứng ấy, phần thứ hai của buổi đối thoại được tiếp tục bởi những trải nghiệm thực tế của các bạn trẻ đến từ Indonesia và Việt Nam. Câu chuyện về những chiếc khăn tay được sản xuất từ những thành phần tự nhiên thân thiện môi trường với mục đích thay thế hoàn toàn cho số lượng lớn khăn giấy tiêu thụ mỗi ngày – vốn sản xuất bởi việc cắt hạ những cánh rừng nhiệt đới là nơi trú ẩn của những loài động vật quý hiếm, gây một ấn tượng rất mạnh tới người tham dự. Câu chuyện được mang tới không chỉ bởi một người trưởng thành có nhiều kinh nghiệm mà còn được thuật lại  qua lời kể của một bạn trẻ mới 16 tuổi, vốn là một học sinh tại Ngôi Trường Xanh được truyền cảm hứng và được đào tạo để nuôi dưỡng những khát khao xanh của mình. Câu chuyện thứ hai về chiến dịch Nông dân tí hon và Lì xì Hạt Giống được thực hiện bởi nhóm các bạn trẻ Green Edu phối hợp thực hiện cùng Teach For VietNam cũng mang lại ấn tượng không hề nhỏ tới người tham dự. Xen kẽ với các câu chuyện đầy cảm hứng, người tham gia còn được trải nghiệm trồng rau mầm và nhận những gói Lì xì hạt giống.

Buổi đối thoại đã phần lớn đạt được mục đích của mình khi lan toả được thông điệp về sự phát triển bền vững và điều này chỉ có thể bắt đầu ngay bây giờ bởi những người trẻ mà thôi.

Tìm hướng đi bền vững cho doanh nghiệp tạo tác động xã hội trong nông nghiệp

GreenEdu tham gia Impact Enterprise Summit

Ngày 30 tháng 3 vừa rồi, GreenEdu đã tham gia Diễn đàn doanh nghiệp tạo tác động xã hội (Impact Enterprise Summit) do Seed Planter tổ chức. Diễn đàn đã thu hút hàng trăm người tham dự, phần lớn đều thể hiện sự quan tâm sâu sắc và cùng hướng đến một mục tiêu chung là tạo tác động tích cực cho xã hội.

Anh Huỳnh Hạnh Phúc – Nhà sáng lập và Giám đốc điều hành của Green Edu cũng là một trong những diễn giả chính cho chương trình của Seed Planter năm nay với ba phiên thảo luận.

Trong phiên thảo luận vào buổi sáng, người tham dự có cơ hội nghe anh Phúc chia sẻ về Bức tranh tổng quát của chuỗi giá trị nông nghiệp Việt Nam. Anh nêu ra những trăn trở của mình về thực trạng của nông nghiệp Việt Nam, vị trí của người nông dân trong thời kỳ hội nhập và công nghệ 4.0 thông qua việc chỉ ra những hạn chế của nông nghiệp nước nhà, nghịch lý nguồn nhân lực nông thôn và mô hình chuỗi giá trị nông nghiệp. “Làm sao để tạo ra lực lượng nông dân Việt Nam thông minh và hội nhập trong thời đại 4.0?” “Làm sao để “miếng bánh giá trị” nông nghiệp lớn hơn và công bằng hơn cho người nông dân?” là những câu hỏi khép lại phiên thuyết trình của anh Phúc mà chúng ta cần giải quyết để đưa nông dân trở thành trung tâm trong chuỗi giá trị nông nghiệp Việt Nam.

Vào buổi trưa, các bạn trẻ có cơ hội lắng nghe anh Huỳnh Hạnh Phúc chia sẻ một lần nữa tại Phiên thảo luận Nông nghiệp giá trị cao cùng với các diễn giả khác đến từ The Coffee House, Rau cười Việt Nhật và Đạt Butter. Đáng chú ý ở phiên thảo luận này, anh Phúc gửi lời khuyên tới các bạn trẻ rằng nếu các bạn muốn khởi nghiệp một doanh nghiệp xã hội trong lĩnh vực nông nghiệp, trước tiên hãy xác định mình có muốn trở thành người phụng sự cho cộng đồng hay không.

Điểm nhấn của diễn đàn lần này là không gian thực hành trải nghiệm, nơi người tham dự  có cơ hội kiến tạo mô hình kinh doanh tạo tác động xã hội bằng cách áp dụng tư duy thiết kế. Các bạn được lập nhóm và cùng nhau thảo luận bài toán do diễn giả đề ra, sau đó nhận được góp ý từ các diễn giả. . Đây cũng là phiên thảo luận cuối cùng do anh Phúc trình bày vào buổi chiều nhằm hướng dẫn những bạn tham dự diễn đàn cùng tham gia vào mô hình kinh doanh cho kênh việc làm ngành nông nghiệp và phát triển xanh Green Job.

Ngoài ra, Green Edu cũng có tham gia trong triển lãm doanh nghiệp tạo tác động xã hội tại Việt Nam cùng với các doanh nghiệp lớn trong ngành như KOTO – “anh cả” của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, chuyên đào tạo hướng nghiệp, giáo dục định hướng và tạo công ăn việc làm miễn phí cho các thanh thiếu niên đường phố trong ngành nhà hàng hay Teach For Vietnam– với sứ mệnh xây dựng nền giáo dục bình đẳng và hoàn thiện cho mọi trẻ em Việt Nam.

Gian hàng đã nhận được sự quan tâm đông đảo và tích cực của các bạn trẻ đến tham gia. Ghé thăm gian hàng Green Edu, mọi người  được lắng nghe về hai dự án hiện có của tổ chức là GreenJob – nền tảng tuyển dụng kết nối nhà tuyển dụng và người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, và “Value Chain Associate Program” – Chương trình Cộng sự Chuỗi giá trị Nông nghiệp, tất cả nhằm cải thiện nguồn nhân lực cho nông thôn Việt Nam, tập trung vào thay đổi hệ sinh thái nguồn nhân lực và khởi nghiệp nông thôn, để tăng sức cạnh tranh cho chuỗi giá trị nông nghiệp. Hơn nữa, các bạn còn rất thích thú khi được thử sản phẩm nước ép nguyên chất WeLove của Lavifood – một đối tác “xanh” của GreenJob.
Qua diễn đàn lần này, anh Phúc và Green Edu tin rằng luôn có một đội ngũ thế hệ trẻ Việt Nam khao khát tạo ra sự thay đổi tích cực và bền vững cho cộng đồng qua chính công việc hàng ngày của họ. Green Edu hy vọng những diễn đàn như thế này sẽ luôn được tổ chức định kỳ, cùng với GreenJob giúp kết nối một nguồn nhân lực xanh cho cuộc sống xanh, từ đó tạo nên một cộng đồng phát triển bền vững.

Green Edu tổ chức khóa học Transforming Art

Green Edu tổ chức khóa học Transforming Art

Từ ngày 26 đến 31 tháng 3 vừa qua, tại Hội trường Khách sạn Riverside, số 18 Tôn Đức Thắng, quận 1, Green Edu đã phối hợp với Viện Kinh tế Nông nghiệp hữu cơ tổ chức thành công khóa học Chuyển hóa bản thân thông qua nghệ thuật.

Transforming Art là sự kiện đầu tiên đánh dấu sự kết hợp giữa Green Edu và Viện trong việc thực hiện khóa học đào tạo nội bộ cho nhân viên. Tham gia khóa học có sự góp mặt của các anh chị lãnh đạo và nhân viên đến từ các công ty trong chuỗi giá trị nông nghiệp bao gồm Viện Kinh tế Nông nghiệp Hữu cơ, Công ty Cổ phần Green Invest Holding, Công ty Cổ phần Lavifood, Tạp chí Nhà Quản Lý, Công Ty Cổ Phần Truyền Thông Xanh – Green Communications, Công ty cổ phần Đồng Xanh, Green Edu và Teach For Vietnam.

Khóa học diễn ra với thời lượng 6 ngày dưới sự hướng dẫn của thầy  Master Ojas Oneness, một Nghệ sĩ Tỉnh thức, một Thiền sư, đồng thời là người chia sẻ về cách chuyển hóa cảm xúc thông qua nghệ thuật.

Mục tiêu của chương trình là giúp mỗi nhân viên sau khi tham gia khóa học đều hiểu được cách quản lý và cân bằng cảm xúc để công việc trở nên hiệu quả hơn, cuộc sống hạnh phúc và tích cực hơn; đánh thức tiềm năng vô hạn cũng như năng lượng Nghệ sĩ bên trong của mỗi người, từ đó khơi nguồn cảm hứng học tập và làm việc của nhân viên.

Kết thúc khóa học, mọi người tự xem xét để đánh giá sự thay đổi của bản thân trước và sau khóa học, cũng như gửi trao lời biết ơn tới những người tạo ra cuộc đời họ, nuôi dưỡng tâm hồn và thể xác cũng như đóng góp cho những thay đổi tích cực của họ.

Thành công của khóa học không chỉ dừng lại ở 6 ngày học và chia sẻ cùng thầy, mà  tinh thần Transforming Art vẫn còn lan tỏa tại Viện thông qua những cam kết luyện tập cụ thể của các học viên mỗi ngày sau đó với 1h15 phút thiền và 15 phút nhảy tự do.

Với tinh thần thực hành này, Green Edu mong muốn mang đến cho các anh chị em nhân viên trong Viện sự vui vẻ, bình anh, hạnh phúc để hướng tới một cuộc sống tự do và khai phóng.




Chuỗi giá trị nông nghiệp nhìn từ hỗ trợ chính sách

Chuỗi giá trị toàn cầu đang từng ngày thay đổi cách sản xuất, quá trình chuyên môn hóa và đầu tư trên toàn thế giới. Ngành nông sản cũng không nằm ngoài xu hướng này.

Báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thế giới (WB) về tương lai của thực phẩm, tối ưu hóa tài trợ phát triển cho chuỗi giá trị nông nghiệp 2018, các chuỗi giá trị nông nghiệp chịu chi phối của những người chơi đến từ khu vực tư nhân, cả quy mô lớn và nhỏ. Sản xuất nông nghiệp được coi là lĩnh vực tư nhân bao gồm khoảng 450 triệu tiểu thương sản xuất nhỏ lẻ và các nhà sản xuất quy mô lớn. Tại các nước có thu nhập bình quân đầu người thấp và cận dưới trung bình, 95% các nông trại có diện tích nhỏ hơn năm héc-ta. Những nông trại nhỏ này thường chiếm 3/4 diện tích đất nông nghiệp ở các nước có thu nhập thấp và khoảng 2/3 diện tích đất ở các nước có thu nhập cận dưới trung bình. Nhóm tiểu thương gồm cả nông dân, các nhà sản xuất thương mại kinh doanh ở những thị trường địa phương tự do, và cả những người bán hàng ở các thị trường có tổ chức thông qua hợp đồng với bên mua. Nhiều hoạt động năng suất cao diễn ra bên ngoài nông trại trong chuỗi giá trị nông nghiệp ở các nước đang phát triển được thực hiện bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cùng một vài doanh nghiệp lớn. Trong khi đó, tại các nước có thu nhập bình quân đầu người cao và ở cận trên trung bình, thị trường đa số do nông dân làm chủ.

HIỂU VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ

Hiểu một cách đơn giản, chuỗi giá trị đại diện cho một nhóm các hoạt động liên kết với nhau nhằm chuyển hóa nguyên liệu thô sơ thành sản phẩm hàng hóa, đồng thời giúp tạo thêm giá trị cho sản phẩm. Chuỗi giá trị thường bao gồm các nhân tố con người và hoạt động giúp cải tiến sản phẩm thông qua kết nối các nhà sản xuất hàng hóa với các nhà chế biến và thị trường. các hoạt động chuyển hóa có thể là sản xuất, marketing hay giao nhận hàng hóa hóa hoặc dịch vụ đến tay người tiêu thụ cuối cùng.

Chuỗi giá trị được cho là vận hành tốt nhất khi các nhân tố kết hợp với nhau tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao và tạo thêm thu nhập cho những người tham gia chuỗi, thay vì chỉ trao đổi thông tin giá cả trong tình trạng cạnh tranh. Chuỗi giá trị khác với chuỗi cung ứng, bởi chuỗi cung ứng liên quan đến kho vận là vận tải giao nhận – một trong những quy trình nhằm đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng.

Một chuỗi giá trị chứa đựng luồng sản phẩm,  kiến thức và thông tin, tài chính, thanh toán, và vốn xã hội cần thiết để thiết lập nhà sản xuất và cộng đồng sản xuất. Thông tin đóng vai trò đặc biệt quan trọng với tất cả các thành phần và vòng quay của chuỗi giá trị qua hai chiều hướng. Một mặt, thị trường đem lại thông tin về giá cả, nhu cầu số lượng và chất lượng, các lựa chọn công nghệ và chế biến sản phẩm. Mặt khác nhà sản xuất đưa thông tin cho các nhà chế biến và thị trường về số lượng sản phẩm, địa điểm, thời gian và các vấn đề liên quan đến sản xuất. Trong một chuỗi giá trị,  các bên marketing và chế biến có thể cung cấp cho nhà sản xuất vốn, nguyên liệu đầu vào cũng như hướng dẫn các công nghệ sản xuất.

Chuỗi giá trị nông nghiệp bao gồm các hoạt động như: phát triển và phân phối các giống cây và vật nuôi, cung cấp nguyên liệu đầu vào, thành lập các hội nông dân,  sản xuất nông nghiệp nói chung, chế biến sau thu hoạch, cung cấp công nghệ sản xuất và chế biến, hạ tầng và tiêu chí phân loại sản phẩm, công nghệ đóng gói và làm lạnh, chế biến nông nghiệp, cất trữ, kho bãi,vận tải, tài chính và khảo sát thị trường.

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ

Ngành nông nghiệp tại các nước đang phát triển thường vận hành trong chuỗi giá trị kép, gồm kiểu truyền thống (phi chính thức) và kiểu hiện đại (chính thức), tồn tại song song cho cùng một loại sản phẩm. Các nhà sản xuất nhỏ thường tham gia vào các chuỗi giá trị truyền thống hay phi chính thức, trong đó sản phẩm được giao cho trung gian tại địa phương, rồi phân phối đi các cửa hàng bán lẻ lân cận. Chuỗi giá trị hiện đại hay chính thức có thể trung chuyển và bán cùng một loại sản phẩm, nhưng thường theo cách thức đồng bộ và chất lượng hơn, tức là từ những nơi sản xuất lớn hoặc tập trung hơn tới các nhà bán buôn, từ đó phân phối cho các siêu thị hoặc các nhà xuất khẩu.

Hai mặt của chuỗi giá trị nông nghiệp tại các nước đang phát triển đặc biệt thể hiện rõ thông qua sự bùng nổ các siêu thị.Sự tồn tại của hai kiểu chuỗi giá trị trong nông nghiệp thường giới hạn các nhà sản xuất nhỏ lẻ trong những thị trường có chất lượng sản phẩm thấp, giá thấp và vì thế lợi nhuận cũng thấp. Do vậy, vấn đề đặt ra là thường xuyên cho các nhà hoạch định chính sách và cả thị trường nói chung là làm sao để các hộ sản xuất nhỏ có thể tham gia vào chuỗi giá trị hiện đại, cả theo hướng phát triển nội địa và xuất khẩu.

Trên phạm vi toàn cầu, một nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) về tác động chính sách đối với chuỗi giá trị nông nghiệp chỉ ra rằng Mỹ và Trung Quốc hiện đang dẫn đầu và giá trị thương mại trong ngành nông sản trên toàn thế giới, cả ở khía cạnh cung và cầu. Trong khi đó, ở châu Âu, giao dịch liên khu vực và liên vùng diễn ra mạnh mẽ hơn. Còn tại châu Á, thương mại tập trung chủ yếu ở những nước lớn trong khu vực.Theo nghiên cứu của OECD, đối với ngành nông nghiệp thương mại liên khu vực đóng góp 85% tổng giá trị thặng dư thương mại cho Châu Âu, 56% cho Châu Á và chỉ 21% cho Châu Mỹ. Số liệu thống kê năm 2017 còn cho thấy, trong khuôn khổ giao dịch thương mại song phương, ba quốc gia đầu bảng về nắm giữ giá trị thặng dư thương mại trong nông nghiệp là Mỹ, Trung Quốc và Đức.

Do sự tham gia đa dạng của các thành phần cũng như sự tồn tại của nhiều khâu trong chuỗi giá trị nông nghiệp, hệ sinh thái cho cả chuỗi cần được phát triển đồng bộ nhằm tạo thị trường cũng như đẩy mạnh hiệu quả và thay đổi cho chuỗi. Các cơ quan lương thực và nông nghiệp của Liên Hợp Quốc dự báo cần thêm 140 tỷ USD tài trợ mỗi năm cho phát triển nông nghiệp và nông thôn nhằm chấm dứt nạn đói và đói nghèo trên thế giới.

Trong đó còn huy động 50 tỷ USD mỗi năm từ khu vực tư nhân chủ yếu thông qua đầu tư nông trại và chế biến và 90 tỷ USD từ khu vực công thông qua nghiên cứu và phát triển hạ tầng nông thôn.Việc tiếp cận nguồn vốn của các hộ nông dân nhỏ lẻ và cả một bộ phận các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường được coi là trở ngại lớn cho tăng trưởng và chuyển đổi nông nghiệp tại các thị trường mới nổi. Cải thiện chất lượng chi tiêu con có thể coi là một trong những biện pháp đáp ứng nhu cầu vay vốn ngày càng gia tăng trong phát triển nông nghiệp. Các tác động phát triển từ cải cách cơ cấu chi công cho nông nghiệp có thể đem lại hiệu quả cao hơn việc tăng mức phân bố ngân sách cho ngành mà không thay đổi cơ cấu chi tiêu. Ví dụ từ một số phân tích của ngân hàng thế giới cho thấy, tại các quốc gia Châu Mỹ La Tinh, việc giảm tỉ trọng trợ cấp hàng hóa tư nhân và tăng tỷ trọng chi tiêu cho hàng hóa công cộng có tác động tích cực lên tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn,môi trường và xóa đói giảm nghèo. Tương tự, nghiên cứu gần đây của định chế tài chính này tại Hạ Sahara ở Châu Phi cũng cho thấy việc cân bằng cơ cấu chi tiêu công cho nông nghiệp hướng tới thu lợi từ hàng hóa công cộng cũng đem lại hiệu quả đáng kể.

Trong khi hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho nông nghiệp vẫn có vai trò quan trọng ở các nước nghèo trên thế giới, các nhà đầu tư từ khối tư nhân cũng là nhân tố giúp thu hẹp khoảng cách về vốn trong phát triển nông nghiệp. Môi trường đầu tư tư nhân trong nông nghiệp tại các nước đang phát triển ngày càng mở rộng với nhiều hình thức, cung cấp vốn hoạt động và được coi là phương án tài chính dài hạn. Thực tế từ báo cáo của WB cho thấy, 45% nguồn vốn vay của các hộ nông dân nhỏ nhỏ lẻ đến từ những định chế tài chính không chính thức và cộng đồng, trong khi tỷ lệ vốn vay từ các định chế cho vay chính thức chỉ chiếm 25%.Đáng chú ý là hình thức các quỹ đầu tư nông nghiệp. Các quỹ này thường kêu gọi vốn từ các nhà đầu tư thông qua các danh mục đầu tư tài chính cho các chuỗi giá trị nông nghiệp. Hình thức quỹ đa dạng từ các quỹ đầu tư mạo hiểm (venture capital), quỹ đầu tư vốn cổ phần tư nhân (private equity) hoặc các quỹ hưu trí (pension fund).

Các công cụ tài chính được huy động thông qua các quỹ này thường gồm dạng cổ phần (private equity), nợ (debt) hoặc bảo lãnh(guarantees).

Đầu tư mạo hiểm cho các startup về công nghệ Nông nghiệp cũng đang trở thành xu hướng tài trợ để phát triển hệ sinh thái chuỗi giá trị nông sản. Theo báo cáo về các quỹ đầu tư nông nghiệp cho phát triển 2018 của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO),danh mục đầu tư nông nghiệp của 30 quỹ đầu tư nông nghiệp trên thế giới hiện nay là 2,6 tỷ USD.

Trong khi đó,để đảm bảo lương thực cho 9,1 tỷ dân trên thế giới vào năm 2050 ước tính cần đầu tư ròng khoảng 83 tỷ USD mỗi năm cho ngành nông nghiệp tại các nước đang phát triển.

Trong bối cảnh đó, chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu và khu vực đang trở thành tiêu điểm quan tâm cho những người làm nghề nông trong khối ASEAN cũng như những người tham gia vào các hoạt động sản xuất thực phẩm. Asean chứng kiến mức tăng trưởng nhanh trong sản xuất nông nghiệp những năm gần đây,góp phần đáng kể vào thị trường thế giới. Xuất khẩu ròng nông nghiệp – thực phẩm tăng từ khoảng 6 tỷ USD năm 1990 lên 50 tỷ USD năm 2014. Sản xuất nông nghiệp – thực phẩm tăng mạnh cũng góp phần tăng thu nhập. Với thực tế dân số ASEAN tăng nhanh trong những năm trở lại đây, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến thị trường khu vực và quốc tế để đáp ứng nhu cầu thực phẩm của mình. Trong giai đoạn 1990 – 2014, nhập khẩu nông nghiệp – thực phẩm ước tính đã tăng 9 lần. Số liệu về giá trị gia tăng trong thương mại cho thấy ASEAN hội nhập rất mạnh vào chuỗi giá trị nông nghiệp – thực phẩm toàn cầu. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khoảng cách đáng kể trong mối liên kết liên quốc gia trong khu vực, ngoại trừ quan hệ giữa một số nước như Indonesia, Malaysia, hay giữa Campuchia và Lào với Việt Nam. Tỷ trọng tham gia của ASEAN vào chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu có sự khác biệt so với mức trung bình của thế giới trong 20 nhóm hàng Nông Nghiệp – Thực Phẩm. Ở phạm vi toàn cầu, đa số các quốc gia có xu hướng mua nhiều và bán ít cùng một loại ngành hàng hoặc ngược lại trong chuỗi giá trị nông sản. Ví dụ, nếu một quốc gia có mối liên kết người mua mạnh do nhập nguyên liệu từ thị trường thế giới thì mối liên kết người bán sẽ yếu hơn do không xuất khẩu được nguyên liệu cùng loại cho các thị trường quốc tế. Tuy nhiên, mối tương quan này ở khu vực ASEAN không đồng nhất. Cùng là ngành hàng dầu thực vật,nhóm sản phẩm dầu và chất béo từ thực vật (ví dụ như dầu cọ chế biến) đứng đầu trong bảng mối liên kết người bán do các nước trong khu vực chủ yếu bán nguyên liệu thô cho các nơi chế biến từ các quốc gia khác.Trong khi đó, nhóm  sản phẩm dầu từ các loại hạt đứng trong top đầu liên kết người mua do các nước đa phần nhập nguyên liệu từ thị trường thế giới. Như vậy, cùng là ngành hàng dầu thực vật, các nước ASEAN vừa dẫn đầu nhóm mua và bán nguyên liệu trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Sự tăng trưởng nhanh chóng của các thị trường sản xuất và tiêu dùng ở quy mô khu vực và quốc tế cho thấy cần phải có các yếu tố hỗ trợ chuỗi giá trị nông nghiệp – thực phẩm vận hành hiệu quả.  ASEAN cũng không phải ngoại lệ khi mà các mối liên kết thương mại mua bán quan trọng giữa Đông Nam Á và các khu vực khác trên thế giới cho thấy cạnh tranh trong xuất khẩu nông sản bị chi phối mạnh mẽ bởi những chính sách có thể làm tăng chi phí hàng hóa nhập khẩu.

Đối với nhiều ngành nông sản, kể cả những ngành xuất khẩu lớn, nguyên liệu nhập khẩu chiếm một phần quan trọng trong giá trị hàng hóa xuất khẩu. Do vậy, phân tích tác động chính sách đối với sự tham gia chuỗi giá trị nông sản toàn cầu cũng như những lợi ích đi kèm cũng chỉ ra rằng các quyết định chính sách liên quan đến nông nghiệp và phi nông nghiệp đều có ảnh hưởng đến ngành nông sản – thực phẩm.

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAM GIA VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

Sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu trong nông nghiệp ảnh hưởng bởi 3 yếu tố chính. Thứ nhất là các chính sách thương mại và đầu tư:  Ví dụ như các biện pháp thuế quan và phi thuế quan, luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI) và chất lượng của các thủ tục hải quan.Thứ hai là năng lực nông nghiệp nội địa:  là những vấn đề liên quan tới hạ tầng vận tải, khả năng tài chính và chi trả, các hệ thống giáo dục và an toàn thực phẩm. Thứ ba là đánh giá các đặc điểm mang tính cấu trúc của nền kinh tế: như các mức độ phát triển,  khác biệt từ các thị trường khác nhau, diện tích đất nông nghiệp sẵn có.

VẤN ĐỀ ĐẶT RA THƯỜNG XUYÊN CHO CÁC NHÀ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH VÀ CẢ THỊ TRƯỜNG NÓI CHUNG LÀ LÀM SAO ĐỂ CÁC HỘ SẢN XUẤT NHỎ CÓ THỂ THAM GIA VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ HIỆN ĐẠI, CẢ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NỘI ĐỊA VÀ XUẤT KHẨU.

Các chính sách thương mại và đầu tư được coi là chìa khóa ảnh hưởng tới sự tham gia chuỗi giá trị toàn cầu cũng như tạo ra giá trị thặng dư nội địa.Thuế nhập khẩu và xuất khẩu, cùng với hàng rào kiểm dịch và kỹ thuật không chỉ giảm sự hội nhập vào chuỗi giá trị mà còn giảm giá trị thặng dư do làm tăng chi phí sản xuất trong khi khả năng cạnh tranh giảm. Các biện pháp phi thuế quan có thể giảm sự tham gia vào chuỗi giá trị nếu các biện pháp này gây bất lợi cho các đối tác giao dịch thương mại. Bên cạnh đó, thủ tục hải quan góp phần quan trọng trong việc quyết định chi phí và khả năng tham gia vào chuỗi giá trị của các nhà sản xuất nông nghiệp. Hệ thống và quy trình thông quan tinh giản, rõ ràng, tạo thuận lợi lưu thông hàng hóa, giúp các doanh nghiệp tăng sự tham gia giao dịch trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Đối với những nhà sản xuất tham gia vào chuỗi với tư cách người bán,  các hiệp định thương mại khu vực có ý nghĩa quan trọng. những nước có nhiều giao dịch trong khuôn khổ các thỏa thuận thương mại ưu đãi (Preferential Trade Agreement – PTA)  thường có sự liên kết người bán lớn hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Năng lực nông nghiệp trong nước như hạ tầng cơ sở và vận tải, trình độ giáo dục, hay nghiên cứu và phát triển nông nghiệp cũng đều là những yếu tố có liên hệ tích cực tới việc tạo ra các giá trị thặng dư nội địa và tạo sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Một hệ thống giáo dục và đào tạo hiệu quả không chỉ giúp tăng năng suất trong nông nghiệp, mà còn hỗ trợ các doanh nghiệp đạt các chứng chỉ sản phẩm (như GlobalGap) nhanh chóng, tăng tự tin khi giao dịch và tham gia vào chuỗi giá trị, không chỉ trong nước mà còn ở phạm vi quốc tế.

Một yếu tố khác góp phần tăng năng lực nội địa cho ngành nông sản là mật độ và mức độ nghiên cứu phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, cần chú ý rằng với trình độ nghiên cứu phát triển cao, các nhà sản xuất có xu hướng tham gia vào liên kết đi mua nhiều hơn do trọng tâm sản xuất dịch chuyển sang các hàng hóa thuộc khâu tiêu dùng cuối cùng trong chuỗi giá trị. Do đó nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào để sản xuất của các doanh nghiệp hoặc cấp quốc gia dạng này cũng tăng cao hơn  nhu cầu xuất khẩu thô.

Cuối cùng, khả năng tham gia vào chuỗi giá trị nông nghiệp dù ở trong nước hay trên bình diện quốc tế đều bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm mang tính cấu trúc của nền kinh tế. Trong đó, nguồn đất sẵn có để dùng cho nông nghiệp –   một tiêu chí đánh giá khả năng sản xuất của một quốc gia – ảnh hưởng tiêu cực tới sự tham gia liên kết người mua và ảnh hưởng tích cực tới sự tham gia liên kết người bán.

Với nguồn đất nông nghiệp dồi dào, khả năng tự sản xuất nguyên liệu đầu vào tăng lên, do đó giảm nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu. Đồng thời, sản xuất tăng cao cũng làm tăng khả năng xuất khẩu và sự tham gia liên tục vào chuỗi giá trị.

Trước tình hình thị trường nông nghiệp thế giới đang diễn biến phức tạp do sự tập trung không đồng đều và một số điểm của chuỗi giá trị nông sản, cũng như nhu cầu và lương thực và an toàn thực phẩm tăng cao, việc nhận diện lợi ích và thách thức khi tham gia thị trường toàn cầu đang trở nên ngày càng quan trọng. Các doanh nghiệp tham gia cuộc chơi cần xem xét tiếp cận về chuỗi giá trị nông nghiệp không chỉ thông qua hiểu biết về chuỗi, năng lực cung cấp, mà còn cần chú ý đến các chiến lược quản trị và nắm bắt thông tin tương ứng. Bên cạnh đó, một môi trường thương mại lành mạnh với các chính sách khuyến khích phát triển và sản xuất nông nghiệp cũng như hợp tác công tư là chìa khóa quan trọng thúc đẩy sự tham gia tích cực, đồng thời cải thiện hiệu quả của các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị nông sản toàn cầu.

NGUỒN : HÀ LÊ – TẠP CHÍ NHÀ QUẢN LÝ

Green Edu ký biên bản ghi nhớ với tỉnh Hậu Giang

Green Edu ký biên bản ghi nhớ với tỉnh Hậu Giang

Ngày 12.12.2018, tại tỉnh Hậu Giang, Công ty cổ phần Green Edu đã ký biên bản ghi nhớ với tỉnh Hậu Giang cho chương trình nghiên cứu đầu tư hệ thống đào tạo nguồn nhân lực trong khuôn khổ chương trình của Diễn đàn kinh tế xanh 2018 – Hậu Giang xây dựng chuỗi giá trị nông sản định hướng thị trường trên nền tảng logistics. Diễn đàn có sự tham gia của các nhà lãnh đạo trung ương và tỉnh Hậu Giang, cùng 400 đại biểu là các doanh nhân, nhà đầu tư, nhà khoa học, nhà kinh tế trong và ngoài nước để cùng nhau thảo luận các giải pháp giúp phát huy đầy đủ các thế mạnh sẵn có của địa phương trong việc xây dựng chuỗi giá trị nông sản dựa trên nền tảng logistics.

Nằm ở vị trí trung tâm châu thổ sông Mê Kông, Hậu Giang có những lợi thế chiến lược trong phát triển nông nghiệp, tham gia vào chuỗi giá trị nông nghiệp hội nhập quốc tế và xây dựng nền tảng logistics liên kết vùng phục vụ phát triển nông nghiệp, đặc biệt tận dụng lợi thế giao thông đường thủy vốn chưa được khai thác đúng với tiềm năng. Có tới 87% diện tích là đất sản xuất nông nghiệp, với nhiều loại nông thủy sản đã có được danh tiếng tốt như khóm Cầu Đúc, cá thát lát cườm, lúa gạo… và với 70% dân số trong độ tuổi lao động, cùng với thuận lợi về đất đai, khí hậu, nguồn nước giúp tỉnh có thế mạnh và tiềm năng trong các lĩnh vực từ nông sản đến thủy sản. 

Tiềm năng về nông nghiệp, về địa lý, về giao thông… vô cùng to lớn, nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, đến nay Hậu Giang vẫn đứng ở vị trí khá khiêm tốn trong bảng xếp hạng phát triển của 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Ảnh: Tạp chí Nhà Quản lý

Một trong những lý do là nguồn nhân lực ngành nông nghiệp của tỉnh còn hạn chế về mặt kỹ năng được trang bị cho phù hợp với mô hình mới, vì thế, việc ký kết biên bản ghi nhớ với Green Edu bước đầu thể hiện cam kết của tỉnh Hậu Giang trong việc xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao phù hợp với xu thế phát triển trong giai đoạn hiện nay.Green Edu là một doanh nghiệp xã hội được thành lập với sứ mệnh cải thiện hệ sinh thái khởi nghiệp và nguồn nhân lực trong ngành nông nghiệp theo định hướng chuỗi giá trị và thị trường. Một trong những hoạt động chính của Green Edu là đào tạo, hỗ trợ khởi nghiệp về lĩnh vực nông nghiệp hướng về chuỗi giá trị.