Câu chuyện của Dung

Câu chuyện của Dung

Mình được sinh ra tại Dak Lak – xứ sở của hạt cà phê trứ danh tại đất Việt và được nuôi lớn bởi tình yêu của cha mẹ. Cha mình trong mắt nhiều người chỉ là một bác nông dân bình thường như bao người khác. Nhưng với mình, hơn cả là một người nông dân khéo léo ông còn là một ông bố toàn năng bởi không gì mà ông không thể làm được từ sửa xe máy, sửa máy cày, đóng bàn, ghế, tủ, giường, sửa ống nước, xây nhà… thậm chí ông còn chơi được cả đàn ghita! Mẹ mình là một giáo viên tiểu học rất đỗi dịu dàng, bà dạy trẻ con trong vùng con chữ, dạy phép tính số, dạy tiếng anh. Mình may mắn biết bao khi có cha mẹ toàn năng như thế bên cạnh.

Nhưng rồi, biến cố xảy đến với gia đình khi mình lên 10 tuổi, cha ra đi vì căn bệnh ung thư máu quái ác. Mất đi trụ cột gia đình, mẹ mình vừa đi dạy học vừa chăm sóc vườn cà phê để đủ tiền trang trải cuộc sống, vừa là mẹ vừa là cha để nuôi dạy ba đứa con ăn học.

Từ những buổi phụ mẹ làm nông hái cà phê, kéo những ống nước 50 lên những vườn đồi cà phê giữa nắng gắt, thồ từng bao cà phê trên chiếc xe đạp cà tàng, mình lúc nào cũng tự nhủ phải học thật giỏi để có thể thoát khỏi nghề nông cực khổ, giúp mẹ đỡ đần gia đình. Hết năm cấp 3 đứng trước việc chọn ngành nghề tương lai, mẹ cho mình hai hướng đi: một là giáo viên, hai là quân y vì theo mẹ những nghề đó mới ổn định và có tương lai.

Nhưng trái với lựa chọn mẹ đưa ra, mình đã quyết định đi con đường riêng của mình – trở thành kĩ sư Công nghệ thực phẩm để góp phần đem lại giá trị cho sản phẩm nông sản bởi thời điểm đó nông sản Việt Nam đa số chỉ sản xuất để xuất thô, giá trị nông sản chưa cao và nghề nông vẫn còn gắn với hai chữ “nghèo” và “khổ”.

Từ Israel

Mình chọn trường Đại học Nông Lâm TP.HCM có liên kết với trung tâm AICAT – đào tạo Tu nghiệp sinh vừa học vừa làm tại Israel tiếp cận với nông nghiệp công nghệ cao để mình có thể tham gia ngay sau khi tốt nghiệp.

Mình thật sự thích thú với việc “learning by doing”, học đi đôi với hành. Thử thách một năm tại Israel đầy nắng, gió và hoang mạc, khắc nghiệt gấp trăm lần so với Tây Nguyên, mình thấy được rằng bằng bàn tay khối óc, nông dân ở Israel đã biến điều không thể thành có thể. Nông dân – Nông nghiệp không còn gắn liền với hai chữ nghèo khổ mà là giàu có và thịnh vượng, đó là cả một sự thay đổi về tư duy.

… Đến Mỹ

Trở về từ chuyến đi Israel, khao khát muốn đi, muốn khám phá thế giới, muốn mở rộng tầm mắt và kiến thức trong mình lại càng thêm lớn. Nhờ cơ duyên, mình được bạn bè giới thiệu cho chương trình thực tập sinh tại Mỹ trong lĩnh vực nông nghiệp. Sau khi đi Mỹ, ngoài việc học được những kiến thức mới, mình còn học được cách sống hào sảng, bản lĩnh dám nghĩ dám làm để đóng góp cho cộng đồng nhiều hơn.

… Về lại quê nhà

Về nước, mình thử sức trong vai trò là một người thương lái thu mua chanh dây tại địa bàn Đăk Nông xuất đi các thị trường Trung Quốc, Châu Âu. Mình càng hiểu hơn về bức tranh khó khăn và trăn trở của người nông dân. Tiếp tục cuộc hành trình tại vườn TH Farm của chị Hoàng Trầm Hương tại Hải Dương, vườn xây dựng theo mô hình nông nghiệp công nghệ cao Israel, tại đây Dung hiểu được quá trình khó khăn và thử thách khi nội địa hóa công nghệ nước ngoài vào Việt Nam.

Đam mê kết nối đam mê, nhận được lời giới thiệu từ người bạn cũ, mình có cơ hội gặp gỡ anh Huỳnh Hạnh Phúc – Giám đốc điều hành và Sáng lập Green Edu để lắng nghe những trăn trở, mong muốn và khát vọng cải thiện hệ sinh thái nông nghiệp theo định hướng chuỗi giá trị mà tập trung vào xây dựng nguồn nhân lực của Anh. Thông qua định hướng chung đó, mình nhận thấy “Đây là cách để giải quyết được bài toán lớn nông nghiệp Việt Nam đang còn đối mặt!”. Được truyền lửa từ anh Huỳnh Hạnh Phúc, mình tin rằng tham gia GreenEdu sẽ là cơ hội lớn để hoàn thiện và phát triển năng lực bản thân, thỏa mãn đam mê nông nghiệp của mình và từ đó đóng góp cho sứ mệnh của GreenEdu.

Khi tham gia vào Green Edu, mình được cử đi học khóa đào tạo về “Nâng cao năng lực quản lý cho các doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn TP.HCM” trong vòng hai tuần. Chính tại nơi này, mình đã được gặp rất nhiều anh chị yêu nghề, lắng nghe những vấn đề của họ và hiểu hơn về thực trạng nông nghiệp Việt Nam, biết được chuỗi giá trị nông nghiệp và định hướng thị trường là gì. Tham gia vào dự án “Nông dân tí hon” của Teach For VietNam, xây dựng nhà lưới tại trường THCS Trà Vong là một trong những dự án ý nghĩa mà mình may mắn được góp sức.

Tham gia xây dựng khóa học E-learning, để thông qua giáo dục, công nghệ mà giải quyết được vấn đề cốt lõi của nông nghiệp hiện nay: nguồn nhân lực Xanh cho nền nông nghiệp phát triển.

Có cơ duyên tham gia tổ chức sự kiện Green Talk, được gặp gỡ với bác Tim trưởng phòng đào tạo của GreenSchool – một ngôi trường khá nổi tiếng về lối sống xanh và các hoạt động giáo dục cộng đồng đều hướng tới thiên nhiên và trân trọng những giá trị văn hóa bản địa.

Và mỗi ngày mình đang dần thay đổi cách sống của bản thân: thực hành lối sống xanh, hạn chế plastic, ăn uống lành mạnh và thiền định để phần nào đó đem lại những đóng góp xanh cho Trái Đất.

Xin được phép trích đoạn một phần mình rất tâm đắc từ bài thơ “Một khúc ca” của nhà thơ Tố Hữu để gửi gắm tâm tư,lời nhắn nhủ đến các bạn trẻ về tinh thần cống hiến.

Nếu là con chim, chiếc lá,
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không có trả

Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?

Let’s green together! Bạn muốn có những trải nghiệm tuyệt vời như thế này chứ? Hãy nhanh tay ứng tuyển trở thành Cộng sự Chuỗi giá trị tiếp theo của Green Edu.

[Dế Mèn Du Ký] Doanh nghiệp Minh Bê: Đượm tình thương lái đồi gừng

[Dế Mèn Du Ký] Doanh nghiệp Minh Bê: Đượm tình thương lái đồi gừng

Lúc chúng tôi đến nơi cũng là lúc mặt trời đã xuống núi. May mắn thay, hôm đấy là sinh nhật của bác gái nên bác Minh ở nhà tổ chức sinh nhật, mà không lên Hà Nội tham dự tổ chức họp mặt thường niên với CSIP (Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng Đồng). Bữa tối thịnh soạn với những món đặc sản miền núi như thịt cuốn lá mắc mật, rượu ngô, canh rau dền núi, món khoái khẩu nhất là canh gà lá ngót. Tôi cùng bác gái bật đèn pin đi ngắt lá ngót trong vườn rau trước sân. Lá ngót to và xanh mơn mởn – tôi chưa thấy rau ngót ở đâu mà đẹp hơn ở đây. Và dĩ nhiên tô canh ấy hết veo chỉ trong vài nốt nhạc. 

Bác Bàn Văn Minh và bác gái Trần Thị Bê thành lập Doanh nghiệp Tư nhân Xuất khẩu & Chế biến Nông sản Minh Bê tại phường Xuất Hoá, thành phố Bắc Kạn vào năm 2011. Tuy vậy, hai bác đã gắn kết với mảnh đất và bà con nơi đây từ lâu hơn thế rất nhiều. “Kể tôi không có bằng cấp gì cả, nhưng gắn liền với nông dân từ đó đến nay cũng được chục năm. Tôi cung cấp giống và hỗ trợ vay vốn cho bà con quanh đây,” bác Minh tâm sự.

Đá nhiều đất ít

Bác Bê là một người con gái tần tảo của vựa lúa Thái Bình, còn bác Minh là một người con trai bản Dao trung dũng của Tân Sơn. Ở xã Tân Sơn, đá nhiều đất ít. Vào mùa khô, đất khô nỏ đến cây ngô cũng khó sinh sôi. Tại đây, hai vợ chồng bác đã thử xoay sở bằng nhiều cách, trồng chuối, trồng ngô, …, mà kinh tế vẫn khó khăn.

Ảnh 1: Vợ chồng bác Minh và bác Bê đứng trước Xưởng chế biến gừng.
Nguồn: Nhóm Dế Mèn Du Ký, tháng 5/2019.

Vào năm 1991, hai bác trồng thử gừng. Gừng hợp đất, phát triển tốt. Lứa gừng đầu tiên với số lượng ít ỏi nhanh chóng được tiêu thụ sạch tại thị xã Bắc Kạn (nay là thành phố Bắc Kạn). Dần dần, hai bác vận động bà con xung quanh cùng trồng. Bà con cần tới đâu thì hai bác cố gắng đứng ra đáp ứng tới đó, từ hỗ trợ vốn, giống, vật tư cho bà con sản xuất, tới bao tiêu đầu ra. Vào năm 2011, Doanh nghiệp Minh Bê chính thức được ra đời.

Người Tây khôn lắm

Năm 2012, thông qua Dự án 3PAD (Dự án quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp), Doanh nghiệp của bác Minh đã được đầu tư 3,5 tỷ đồng. Nguồn vốn đến từ IFAD (Quỹ Quốc tế về Phát triển Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc) và APIF (Quỹ Xúc tiến Đầu tư Nông lâm nghiệp).

“Người Tây khôn lắm,” bác Minh cười. “Họ tính trước mình nhiều bước. Doanh nghiệp phải có đầy đủ năng lực, kinh nghiệm, là đầu tàu kinh tế, thì họ mới đầu tư. Tôi hướng dẫn bà con cách trồng, cách thu hoạch, rồi bao tiêu sản phẩm đầu ra. Trước đây trồng ngô, lúa chỉ đủ ăn, khỏi đói, thì từ khi đưa cây gừng lên trồng, bà con mới dần thoát nghèo được.”

32% tổng vốn nhận được, doanh nghiệp sẽ dùng mà hỗ trợ cho bà con nông dân nghèo khó. 68% còn lại thì doanh nghiệp dùng để tái đầu tư vào nhà xưởng, sân phơi, hệ thống máy móc thiết bị. “Trước kia hỗ trợ người nghèo thì cho tiền, nhưng rồi dân nghèo dùng tiền đó mua rượu uống cũng hết, nghèo vẫn hoàn nghèo,” bác Bê kể. Nay, bà con được vay vốn, được hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, rồi được đảm bảo đầu ra, nhờ những mối quan hệ mà Doanh nghiệp Minh Bê đã gầy dựng với các thương lái ở Hà Nội và Công ty Xuất khẩu Hải Dương. Những ngôi nhà mới mọc lấp ló trên đỉnh đồi là thành quả của những nỗ lực suốt hơn 20 năm của người dân nơi này. 

Hào hứng xưởng gừng

Sáng hôm sau, bác Minh đưa chúng tôi đi tham quan nhà xưởng và vùng trồng gừng. Vào khu phân loại, có hai cô nhân công đang ngồi tách mầm gừng ra và phân loại. Mầm gừng thì đem về miền xuôi bán cũng khá được tiền, 70.000 – 80.000 VND/kg. Bác Minh kể vùng này gừng không đủ số lượng để vận chuyển cho một cuốc xe, phải chờ mua ở vùng khác đến, rồi đi chung. Gừng thích mọc mầm, nên phải tách mầm ra thì mới bảo quản được lâu. Những bọc gừng 50kg đã qua xử lý như vậy được xếp thẳng tắp giữa gian nhà, sẵn sàng chờ xuất xưởng. 

Ảnh 2: Củ gừng tươi cùng mầm gừng, trên nền là những bao gừng thẳng tắp.
Nguồn: Nhóm Dế Mèn Du Ký, tháng 5/2019.

Lúc vào mùa, hàng dồn dập về, nếu không kịp bán thì bác sẽ cho đem đi sấy để kéo dài vòng đời cho sản phẩm. Bác Minh hào hứng chỉ cho chúng tôi khu vực máy sấy gừng khí sạch. Bác đã đầu tư 300 triệu đồng và thuê kỹ sư ở tận Hà Nội lên để thiết kế thi công. Tuy nhiên, vào những mùa không có gừng, chiếc máy này chẳng được ai được sử dụng. Chỉ nghe cách bác kể về chiếc máy sấy, chiếc xe chở hàng, chúng tôi cũng thấy được rằng bác đã trăn trở, tìm tòi rất nhiều để tăng giá trị cho thành quả của người dân quanh đây.

Cầu nối

Được gặp bác, được cảm tấm lòng bác dành cho cây gừng, chúng tôi mới hiểu tại sao người dân nơi đây “có bảo với họ là không có chỗ để chứa nữa rồi, đưa đi chỗ khác cân, nhưng họ có chịu đâu”. Họ vẫn chọn bán cho xưởng gừng nhà bác. Lòng tin được bồi đắp qua bao năm gắn bó giữa hai bác và bà con là cơ sở để những khoản vay vốn, vay giống được thông qua, mà không cần bất kỳ giấy tờ thế chấp nào.

Ảnh 3: Bác Huệ, một người nông dân trồng gừng, miêu tả cách canh tác.
Nguồn: Nhóm Dế Mèn Du Ký, tháng 5/2019.

Hơn nữa, tính pháp lý và sự nhanh nhạy của doanh nghiệp Minh Bê là cơ sở để những đối tác khác của chuỗi giá trị, từ đơn vị xuất khẩu đến các tổ chức phi chính phủ, sẵn sàng bắt tay để ký hợp đồng đầu tư.

Thị trường gia vị ngày nay càng nhộn nhịp hơn xưa. Ngoài những đất nước sản xuất chính như Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ, trong những năm gần đây, các đảo quốc ở vùng biển Caribe, cũng như Brazil và Peru, đang tăng cường quảng bá sản phẩm gừng hữu cơ để xuất khẩu vào Mỹ. Các nước nhỏ như Nepal, Indonesia, cũng đang tìm đường xuất khẩu vào châu Âu và Liên bang Nga, đặc biệt là thông qua Hà Lan, vốn là một cửa ngõ quan trọng cho nhiều mặt hàng nông sản.

Để những hộ nông dân nhỏ lẻ cũng có thể tham gia vào các chuỗi giá trị nông nghiệp xuyên quốc gia này, những doanh nghiệp như của hai vợ chồng bác Minh, bác Bê là một cầu nối vô cùng quan trọng.

Doanh nghiệp Minh Bê là một ví dụ điển hình cho thành công của một chuỗi giá trị nông sản có sự chung tay của cả người nông dân, người thương lái và các tổ chức hỗ trợ trong và ngoài nước. Mô hình này, còn được biết đến với tên gọi mô hình tài chính vi mô thông qua doanh nghiệp, sẽ được phân tích cụ thể hơn trong bài viết tiếp theo của Green Edu. Mong các bạn đón xem!

Bài viết được tổng hợp từ cuộc phỏng vấn tại Doanh nghiệp Minh Bê vào tháng 5/2019, và các nguồn tham khảo sau:

Âu Vượng (2014). Báo Nông nghiệp Việt Nam: Vị ngọt của gừng. nongnghiep.vn.

Hurri, S., Nguyen, Q., Hernández, E. (2019). Những cải tiến về tài chính và đầu tư mở rộng trong phát triển nông nghiệp ở Việt Nam. Những chiến lược sáng tạo về quản lý rủi ro trong tài chính nông nghiệp và nông thôn (pp. 31-56). Nhà xuất bản Nông nghiệp. http://www.fao.org

Tuấn Sơn (2018). Báo Bắc Kạn: Thơm hương cây gừng vùng cao. baobackan.org.vn.

YES BANK and IDH (2018) Business Case for Spices Production & Processing in Meghalaya, Mizoram, Nagaland and Uttarakhand.

[CGT] HÀNH ĐỘNG THẾ NÀO LÀ HIỆU QUẢ?

Chuỗi giá trị cho chúng ta một cái nhìn bao quát, giúp ta phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới quyết định của một tổ chức hay ngành nghề. Từ đó, ta có thể lên kế hoạch toàn diện và hiệu quả hơn, tác động đúng nơi, đúng thời điểm hơn, cho nông nghiệp và cho cả thiên nhiên nữa.

Mỗi chúng ta

Mỗi chúng ta đều có chung những nhu cầu như được sống, được tự do, được mưu cầu hạnh phúc [1], được đóng góp cho tập thể [2]. Theo Will Grant, mỗi người đều có thể đóng góp ở 4 mức độ hành động cơ bản như sau [3]:

1. Hành động đơn lẻ: Chúng ta có thể tái chế rác, tiết giảm tiêu dùng các sản phẩm có hại cho môi trường.

2. Hành động cùng gia đình và bạn bè: Chúng ta có thể kêu gọi những người thân cùng làm những hành động đơn lẻ trên, hoặc dùng năng lượng mặt trời cho cả gia đình, hoặc cùng nhau mua chung thực phẩm để hỗ trợ những nông trại sản xuất giảm thiểu hóa chất tổng hợp.

3. Hành động cùng cộng đồng và tổ chức địa phương: Chúng ta có thể vận động trường học hoặc công ty của mình tổ chức thêm các chương trình ngoại khóa, hoặc vận động khu phố trồng thêm cây cho công viên, hoặc cố gắng sắp xếp để gặp được Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận, huyện, Tỉnh, thành nhằm nêu ra ý kiến. Ở mức độ này, chúng ta tác động đến tập thể và tổ chức, nhưng vẫn được biết tới như một con người bằng xương bằng thịt thông qua gặp gỡ, nói chuyện, …

4. Hành động cùng nền kinh tế và luật pháp: Chúng ta có thể bầu cử, nộp đơn khởi kiện các đơn vị gây ô nhiễm như Formosa, tham gia các tổ chức vận động điều chỉnh luật, tổ chức các phong trào tẩy chay sản phẩm, bãi công, …

Video: Grant, W. (2018). Four Levels of Action.
Nguồn: Southern Oregon Drawdown Youtube Channel.

Trong các phong trào yêu cầu quyền lợi cho các nhóm yếu thế, bị áp bức như công nhân, người dân các nước thuộc địa,  trẻ em, và gần đây hơn là cho môi trường và sinh vật sống, các hành động ở mức độ 1 và 4 thường được nhấn mạnh.

Tuy vậy, chúng ta có sức ảnh hưởng lớn nhất ở mức 2 và 3, đặc biệt là ở mức 3. Khi chúng ta thay đổi một tổ chức địa phương mà chúng ta là một thành viên, chúng ta không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống của chính mình, mà còn là của vài chục, vài trăm, có khi vài ngàn người khác. Những thí nghiệm mẫu này có thể làm ví dụ cho các tổ chức khác làm theo.

Chẳng hạn, chúng ta muốn phủ xanh trường học, công ty hay khu phố của mình. Đó là một việc có thể làm được. Chúng ta có thể làm dự án đó từ đầu đến cuối trong một, hai năm. Chúng ta có thể nói chuyện với từng người có liên quan, có thể tính toán chi phí, có thể kêu gọi thêm vài người cùng giúp. Và chúng ta có thể làm vào giờ rảnh, không cần làm việc này toàn thời gian.

Chính các cuộc nói chuyện, các tương tác đó là mấu chốt của thay đổi. Sự trao đổi suy nghĩ, mong muốn của từng người cũng có ích như việc phủ xanh vậy. Chúng ta dần nhận ra chí ít thì cũng có thể làm một cái gì đó. Và nếu một ngôi trường, một công ty làm được, những ngôi trường và công ty khác cũng sẽ đặt câu hỏi là họ có làm được không, và biết đâu đó sẽ trở thành tiêu chuẩn cho cả quận, cả ngành.

Hình 1: Nhà khoa học Nguyễn Thanh Mỹ giới thiệu Tập đoàn Mỹ Lan, chuyên sản xuất phân bón và thiết bị nông nghiệp thông minh, sản phẩm hóa dược, và quang điện tử cho thị trường trong nước và quốc tế. Toàn bộ nước thải của Mỹ Lan đều được xử lý bằng những phương pháp sinh học tiên tiến nhất, gồm các loại cây cỏ và đá tự nhiên. Tập đoàn Mỹ Lan đã dẫn đầu toàn tỉnh Trà Vinh không chỉ về công nghệ mà còn về giá trị cho nhân viên và môi trường.
Nguồn ảnh: nhipcaudautu.vn. Nguồn tin: cafebiz.vn.

Mỗi doanh nhân

Khái niệm “chuỗi giá trị” nằm trong hệ tư tưởng về chiến lược kinh doanh của Michael Porter [4]. Áp dụng đúng cách, phân tích chuỗi giá trị sẽ giúp mỗi doanh nghiệp tăng biên độ lợi nhuận và giảm rủi ro.

Lấy một ví dụ – ngành rau củ quả tại Việt Nam, vốn gặp nhiều áp lực cạnh tranh [5], dẫn đến biên độ lợi nhuận thấp. Về mặt thị trường, người mua có thể gây áp lực vì họ có nhiều sự lựa chọn – rất nhiều cơ sở có thể trồng và bán rau củ quả. Ngoài ra, họ có thể từ chối mua hàng trong một vài ngày, và mặt hàng tươi sống sẽ hư hỏng và bị giảm giá trị rất nhiều. Về mặt vật tư, số nông dân luôn nhiều hơn số cơ sở có khả năng sản xuất phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Do đó, người nông dân ít có khả năng thương lượng giá.

Mỗi doanh nhân có thể áp dụng khái niệm “chuỗi giá trị” để bổ sung cho một khái niệm cũ hơn là “chuỗi cung ứng”. Với góc nhìn của chuỗi cung ứng, doanh nghiệp sẽ tập trung vào đo lường và tối ưu hóa quá trình vận hành, bằng cách phối hợp các cấu phần như nhà xưởng, kho, và phương tiện vận tải, nhằm sản xuất và phân phối hàng hóa đến đúng nơi trong thời gian ngắn nhất, với giá thành thấp nhất, và chất lượng đảm bảo [6].

Với góc nhìn “chuỗi giá trị”, không chỉ đơn thuần là tối ưu hóa năng suất, doanh nghiệp sẽ tập trung vào các hoạt động như phân tích xu hướng thị trường và nghiên cứu phát triển sản phẩm mới. Bằng cách mang lại những giá trị cao hơn, chính xác hơn so với nhu cầu của khách hàng, mỗi doanh nhân có thể tạo ra các tiểu ngành có biên độ lợi nhuận cao hơn, như thực phẩm chức năng, chế phẩm sinh học, …

Hình 2: Mỹ chũ rau củ được chế biến từ nguyên liệu thô để nâng giá trị.
Nguồn: https://www.facebook.com/Taman-Eco-111235907032555

Ngoài ra, ngành nông nghiệp vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn các ngành hàng khác, do nguy cơ thời tiết, khoảng cách địa lý, các vấn đề về cấu trúc như thiếu hụt thông tin và dòng vốn ở nông thôn, … [7] Khả năng phản ứng của vùng sản xuất thường đi chậm so với thay đổi của các mắt xích khác, ví dụ nếu thị trường đột ngột tẩy chay thịt heo do một loạt phóng sự về lò giết mổ, hoặc nhà máy đột xuất yêu cầu tăng khối lượng để đáp ứng đơn hàng, thì người nuôi trồng không kịp trở tay. Sử dụng mô hình chuỗi giá trị sẽ giúp chúng ta lường trước được các nguy cơ rủi ro, và áp dụng các biện pháp giảm thiểu rủi ro hợp lý như bảo hiểm, đa dạng hóa, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, …

Hình 3: Hạn mặn khốc liệt hầu như đã bao trùm khắp các tỉnh ĐBSCL, hàng nghìn héc ta lúa đông xuân 2019 – 2020 nguy cơ mất trắng.
Nguồn: tienphong.vn

Mỗi nhà công tác xã hội

Các thảm kịch của môi trường, đói nghèo, bất bình đẳng, …, đều là phần nổi của một tảng băng chìm gồm các yếu tố mang tính hệ thống, phụ thuộc lẫn nhau. Để giải quyết chúng, các biện pháp cứu trợ ngày càng nhường chỗ cho các biện pháp bồi đắp và phát huy nội lực của cộng đồng.

Hơn nữa, với tần suất và biên độ ngày càng tăng của các biến động trên thế giới, chẳng hạn như những đợt giá nông sản và giá dầu vọt lên hoặc sụt xuống ngoài tầm kiểm soát, những ảnh hưởng nặng nề và khó lường trước của biến đổi khí hậu, dịch bệnh truyền nhiễm, cũng như tốc độ của phát triển công nghệ và toàn cầu hóa – đô thị hóa, giải pháp cho các vấn đề xã hội không thể chỉ đến từ một bên thứ ba, mà chính là từ khả năng cải tiến, thích ứng kịp thời của cộng đồng thụ hưởng.

Các cải tiến thường xuất hiện thông qua tương tác giữa nhiều tác nhân, đến từ nhiều góc nhìn và có nhiều kỹ năng, nguồn lực khác nhau. Mô hình chuỗi giá trị cho chúng ta thấy các nhóm tác nhân và mối quan hệ giữa họ. Từ đó, chúng ta không chỉ có thể xác định chuỗi giá trị nào, tác nhân nào sẽ là then chốt để can thiệp và hỗ trợ đúng chỗ, mà còn có thể tạo ra các sân chơi cho những tác nhân này tương tác với nhau, làm nền tảng để họ có cơ hội hợp tác và sáng tạo.


[1] Hồ, C. M. (1945). Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

[2] Max-Neef, M. A. (1992). Human scale development: conception, application and further reflections (No. 04; HC125, M3.).

[3] Grant, W. (2018). Four level of actions. Theo https://connect.pachamama.org/way-3, truy cập ngày 25/04/2020.

[4] Porter, M. E., & Advantage, C. (1985). Creating and sustaining superior performance. Competitive advantage, 167, 167-206.

[5] Porter, M. E. (2008). The five competitive forces that shape strategy. Harvard business review, 86(1), 25-40.

[6] Bolstorff, P., & Rosenbaum, R. (2003). Supply chain excellence: A handbook for dramatic improvement using the SCOR model. Journal of Supply Chain Management, 39(4), 38.

[7] Hernández, E. (2017). Những chiến lược sáng tạo về quản lý rủi ro trong tài chính nông nghiệp và nông thôn: Kinh nghiệm ở Đông Nam Á. NXB Nông Nghiệp. Nhóm dịch Green Edu dịch từ tài liệu gốc của FAO.

[CGT] CHUỖI GIÁ TRỊ LÀ GÌ?

Chuỗi giá trị là một mô hình diễn tả các hoạt động gia tăng giá trị cho nguyên liệu đầu vào, để tạo thành sản phẩm đầu ra cho khách hàng.

Mô hình chuỗi giá trị cơ bản

Khái niệm “chuỗi giá trị” được phổ biến đầu tiên vào năm 1985 bởi Michael Porter, nhằm đưa ra một góc nhìn mới trong vận hành doanh nghiệp. Một chuỗi giá trị cơ bản gồm các hoạt động chính yếu như Kho vận đầu vào, Sản xuất, Kho vận đầu ra, Tiếp thị, Bán hàng và Dịch vụ, cùng với các hoạt động hỗ trợ như Quản lý nhân sự, Pháp lý, Tài chính, Công nghệ, …

Hình 1: Mô hình chuỗi giá trị cơ bản (Nguồn: Green Edu JSC.)

Mô hình chuỗi giá trị nông nghiệp

Một chuỗi giá trị nông nghiệp thường bao gồm các mắt xích chính như: vật tư đầu vào, vùng sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi, v.v.), hệ thống thương lái và chợ đầu mối, nhà máy chế biến, thị trường bán sỉ và bán lẻ. Các cấu phần hỗ trợ gồm các chính sách, gói đầu tư, nguồn nhân lực và công nghệ, …

Hình 2: Một ví dụ của mô hình chuỗi giá trị nông nghiệp cho ngành trồng trọt
(Nguồn: Green Edu JSC.)

Mô hình chuỗi giá trị nông nghiệp thường được các tổ chức phát triển quốc tế như World Bank (Ngân hàng Thế giới), FAO (Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc), ILO (Tổ chức Lao động Quốc tế), GIZ (Tổ chức Hợp tác Quốc tế CHLB Đức), ICA (Liên minh Hợp tác xã Quốc tế), … sử dụng để xác định rằng các gói hỗ trợ phát triển nên được áp dụng cho đối tượng nào, dưới hình thức ra sao, là hiệu quả nhất.

Trong clip dưới đây, ILO giới thiệu cách mà Tổ chức Lao động Quốc tế giúp một hộ nông dân nghèo ở Đông Timor, thông qua phương pháp phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp . Nhận thấy rằng bác nông dân Gil tuy làm việc vất vả mà vẫn không đủ ăn, cô Amivi, cán bộ của ILO, bèn tìm hiểu, phỏng vấn toàn bộ các mắt xích của chuỗi giá trị. Cô phát hiện rằng bác Gil không được tiếp cận nhiều thông tin thiết yếu, ví dụ như cách canh tác hiệu quả hơn, vốn chỉ có ở thị trường cuối. Cô Amivi liền sắp xếp để một nhà phân phối nông sản nhỏ, Erin, bước vào làm cầu nối giữa bác Gil và thị trường, thông qua việc hỗ trợ vật tư đầu vào chất lượng, hướng dẫn cách trồng, và đưa sản phẩm đến người mua. Điều này giúp tăng thu nhập và cải thiện điều kiện làm việc của bác Gil và các hộ nông dân khác.

Clip giới thiệu phương pháp phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp của ILO.
(Nguồn: International Labour Organization Youtube’s Channel)

Chuỗi giá trị sữa của Costa Rica đã ra đời như thế nào?

Costa Rica, một rải đất eo hẹp nối liền Bắc Mỹ và Nam Mỹ, vào những năm cuối của thập niên 40 vẫn còn những cuộc nổi dậy vũ trang đẫm máu giành chính quyền. Trong chính thời kỳ đó, giá thu mua sữa thường xuyên trồi sụt, khiến cho nhiều trang trại lao đao. Sữa là một mặt hàng dễ hư hỏng. Người nông dân bị buộc phải bán dù có lỗ bởi vì không thể bảo quản sữa được lâu. Giá vật tư đầu vào cũng bị định đoạt bởi các nhà cung cấp.

Vào năm 1947, một nhóm gồm 25 nông dân nuôi bò đã cùng nhau lập ra hợp tác xã Dos Pinos, nhằm yêu cầu giá cả chính đáng hơn cho cả vật tư đầu vào và sữa đầu ra. Trong 4 năm đầu, hợp tác xã này chỉ có thể tập trung vào cung cấp thức ăn chăn nuôi cho các trang trại thành viên, nhằm giảm giá thành sản xuất. Đến năm 1951, Dos Pinos mới tích lũy đủ vốn để xây nhà máy tiệt trùng và đóng chai đầu tiên, góp phần bao tiêu đầu ra cho nông hộ.

Từ năm 1953 đến nay, Dos Pinos không ngừng mở rộng danh mục sản phẩm, gồm kem, sữa bột, bơ, … Song song đó, các vùng sản xuất tập trung ở mỗi miền đất nước cũng được hình thành, hệ thống phân phối gồm cửa hàng, siêu thị được phát triển, không chỉ trong nước, mà còn tiến ra khu vực, thông qua việc thu mua, sát nhập các công ty sữa nước ngoài. Đến nay, từ 25 nông dân ban đầu, Dos Pinos đang thu mua sữa từ hơn 1.400 nhà sản xuất liên kết trên toàn quốc, có hơn 5.000 nhân viên trong khu vực, và hằng năm chế biến hơn 85% lượng sữa của toàn Costa Rica.

Clip quảng cáo kem Krunchy của Dos Pinos trong thập niên 70. (Nguồn: Youtube)

Costa Rica vốn được biết đến như một trong những đất nước cam kết phát triển xanh mạnh mẽ nhất của toàn Châu Mỹ, và câu chuyện của Dos Pinos cũng không là ngoại lệ. Tất cả các nhà máy của Hợp tác xã Dos Pinos, tức Hợp tác xã Hai Cây Thông, đều được chứng nhận tiêu chuẩn môi trường danh giá ISO 14001. Để làm được điều này, không chỉ nhân viên nhà máy, mà các nông hộ sản xuất sữa cũng thường xuyên được đào tạo và khích lệ để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

Năm 2019, Dos Pinos đóng góp khoảng 2% vào tổng GDP của Costa Rica, và lượng tài sản của hợp tác xã này được sở hữu bởi hơn 2.000 thành viên, trong đó có khoảng 1.500 là các nông dân, trên 80% chỉ sở hữu trang trại nhỏ hoặc vừa.

Trong hơn 50 phát triển của mình, các hộ nông dân của Dos Pinos đã nối dài chuỗi giá trị, từ chỉ đơn thuần cung cấp sữa tươi, đến chế biến, phân phối và cả các dịch vụ khác – góp phần mang đến những giá trị thiết thực không chỉ cho người nông dân và khách hàng, mà còn cho cả môi trường sống.

Tài liệu tham khảo:

Evans, M. (2012). The Delicious History of Dos Pinos, Costa Rica’s Dairy Brand of Choice. Theo https://news.co.cr/the-delicious-history-of-dos-pinos-costa-ricas-dairy-brand-of-choice/10971/, truy cập ngày 07/05/2020.

Hợp tác xã Sản xuất Sữa Dospinos: https://www.cooperativadospinos.com/.

Martinez-Piva, J. M., & Zúñiga-Arias, G. (2014). Economic Integration and Value Chain: Case study from Central America Dairy. Global value chains and world trade: Prospects and challenges for Latin America. Santiago: ECLAC, 2014. LC/G.2617-P. p. 163-183.

Porter, M. E., & Advantage, C. (1985). Creating and sustaining superior performance. Competitive advantage, 167, 167-206.

Tôi chọn con đường “đưa người nông dân trở lại làm nông dân”

Tôi chọn con đường “đưa người nông dân trở lại làm nông dân”

Trưởng thành trong sự áp lực của đồng tiền

“…Nơi đây hình hài thế thôi

Dòng người vẫn như dòng nước

Cuốn tôi lặn ngụp trong bao tiếng gọi mời…”

Những câu hát trong bài hát “Đường về” của ban nhạc Quái vật tí hon vẫn luôn văng vẳng bên tai tôi mỗi ngày.  Đó là bản nhạc Rock yêu thích đã theo tôi từ bé đến tận bây giờ.

Hồi nhỏ, tôi là một đứa trẻ ít nói, không giao lưu với nhiều người. Ngoài thời gian đến trường, tôi gắn bó nhiều hơn với những quyển truyện, bản nhạc yêu thích. Lớn lên cùng Rock/Metal, tôi dần có những thức cảm về cuộc sống, hình thành thói quen quan sát sự đời, nhạy cảm với những chuyện xảy ra xung quanh tôi. Rock/Metal thật sự là thứ âm nhạc tuyệt vời, nó đã làm khai mở tâm hồn của một cậu bé mới lớn. 

Lớn hơn chút xíu, tôi bị cuốn vào cuộc đời của một người trưởng thành. Theo quy luật của tạo hóa, tôi càng lớn khôn, những người thân bên cạnh tôi càng già đi và rời xa tôi không lâu nữa. Tôi bắt đầu kiếm tìm những công việc vặt có tiền để trang trải việc học và hỗ trợ kinh tế gia đình. Từ lúc đó tôi đã hiểu được giá trị của đồng tiền, giá trị công sức của con người bỏ ra. 

Quãng thời gian trưởng thành của tôi gắn liền với ngành kinh tế hàng hải, 5 năm đại học và 2 năm cao học đã đào tạo tôi trở thành một chuyên viên giao nhận/logistics tương lai. Trong thời gian học cao học ở Hàn Quốc, tôi đã gặp nhiều thanh niên trạc tuổi tôi bỏ ruộng vườn ở quê đi xuất khẩu lao động. Ở nông thôn, xuất khẩu lao động được xem là thiên đường kiếm tiền, bởi người nông dân nghĩ rằng kiếm tiền ở xứ người rất dễ dàng và có thể kiếm được rất nhiều tiền trong khoảng 2 – 3 năm, nếu làm ruộng ở quê sẽ không bao giờ kiếm được số tiền tương đương như vậy. Xuất khẩu lao động ở Việt Nam vượt mức 100 000 người từ năm 2014-2019. (Theo thống kê của Bộ lao động – Thương binh và Xã hội).

Có một lần tôi nghe được câu chuyện bỏ xứ đi làm thuê của cậu bạn người Thái Bình. Cậu kể đám thanh niên quê cậu và cả nhiều làng quê khác nữa rủ nhau vay tiền đi xuất khẩu lao động. Dù nhà nào cũng có ruộng nhưng do tiền công bỏ ra còn nhiều hơn tiền thu vào, năm nào cũng lỗ vốn, trồng trọt lại gặp nhiều vấn đề, nên nhà nào có con trai đều theo con đường đó, với mong ước người con kiếm được thật nhiều tiền ở nước ngoài rồi gửi về cho ba má ở quê. Vậy nên ruộng đất ở quê ngày càng thiếu người cày cấy, để bạc trắng năm này qua năm khác, hoặc chuyển thành các khu công nghiệp.

Tôi hiểu được sản phẩm nông nghiệp Việt Nam mất giá trầm trọng là do chi phí logistics ngành nông nghiệp ở Việt Nam rất cao làm hạn chế tiêu thụ nông sản. Chi phí logistics cho xuất khẩu nông sản Việt Nam trung bình chiếm tỷ lệ khoảng 20-25%, khá cao so với các nước trong khu vực (khoảng 10-15%). Ví dụ, cây vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang) mùa vụ vừa qua đem lại khoản doanh thu 5.000 tỷ đồng thì trong đó dịch vụ logistics đã chiếm đến 2.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, kết nối hạ tầng logistics tại Việt Nam còn nhiều bất cập. Năng lực lưu kho và chuỗi cung ứng lạnh còn hạn chế. Chuỗi cung ứng dịch vụ Logistics hầu hết dó các doanh nghiệp nhỏ thực hiện đơn lẻ từng khâu (theo Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).

Đi thật xa để trở về

Với tất cả sự tôn trọng giá trị con người, tôn trọng công sức của người người nông dân, và mong muốn công sức đó được đền đáp xứng đáng, tôi tận dụng thế mạnh kiến thức ngành kinh tế hàng hải 7 năm của mình, tìm đến Green Edu để cùng giúp đỡ những người nông dân thiện lành này.

Là thành viên của đội VCA trong chương trình VCAP (Value Chain Associate Program) – Chương trình Cộng sự chuỗi giá trị với mục tiêu gỡ rối những vấn đề bức thiết cho người nông dân Việt, tôi đang dần hiện thực hóa dự định của mình. Nhóm VCA chúng tôi được tham gia các Hội nghị lớn liên quan đến Nông nghiệp, như Hội nghị đầu tư tỉnh Trà Vinh ngày 15/01/2020 được tổ chức bởi Viện Kinh tế Xanh. Tôi hiểu thêm về tầm quan trọng của logistics trong phát triển nông nghiệp chuỗi giá trị tại Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là tận dụng lợi thế địa lý để phát triển kinh tế biển phục vụ vận chuyển hàng hóa. Những dự án của Viện Kinh tế Xanh tại ĐBSCL cũng gắn với khai thác lợi thế này. Với chuyên ngành về Kinh tế vận tải biển, tôi thấu hiểu được điều này và sẵn sàng đồng hành cùng nhóm VCA thực hiện các dự án của Viện trong tương lai. 

Value Chain Associate Program (VCAP) là chương trình phát triển và tạo môi trường cho tài năng trẻ ở  tất cả các ngành nghề phát huy thế mạnh và cống hiến cho cộng đồng, cho hệ sinh thái Nông nghiệp ngày càng hưng thịnh. Là một Associate (Cộng sự), bạn sẽ trở thành những “chiến binh” trang bị đầy đủ kỹ năng với sứ mệnh giải quyết các vấn đề Nông nghiệp – Nông thôn – Nông dân theo định hướng chuỗi giá trị và thị trường. Để trở thành một phần của VCAP – chương trình Cộng sự chuỗi giá trị như Hiệp, ứng tuyển vào chương trình VCA cùng chúng tôi ngay.

Đi để thấu hiểu nỗi lo người nông dân

Đi để thấu hiểu nỗi lo người nông dân

“Lịch sử mang khuôn mặt nông dân” thời bấy giờ

“Việt Nam đất nước ta ơi,

Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn…”

(Việt Nam quê hương ta _ Nguyễn Đình Thi)

Thơ ca Việt Nam đã đưa những hình ảnh đẹp của quê hương như “Biển lúa, cánh cò, người nông dân chân lấm tay bùn” đi sâu vào tâm thức của bất kỳ đứa trẻ nào được sinh ra và lớn lên ở nơi đây. Từ thời tiểu học, tôi được học và biết rằng Việt Nam là một đất nước của nền văn minh lúa nước, “thời tiết, đất đai …” đã hỗ trợ người nông dân nhỏ bé nuôi trồng rất thuận lợi và góp phần giúp quê hương lên những thứ hạng nhất nhì thế giới về Nông nghiệp. Lớn thêm một chút, khi được tiếp cận với nhiều thông tin trong nước và quốc tế, tôi thường xuyên nhìn thấy những tin tức đề cập đến việc nông sản Việt không thể xuất khẩu, nông dân đa số vẫn nghèo khổ, liên tục phải giải cứu nông sản … và cũng luôn tự hỏi rằng: “Đâu rồi những lợi thế về nông nghiệp trong quá khứ, đâu rồi cái tên mỹ miều “nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới”, những con số ấn tượng luôn rổn rảng trên các phương tiện truyền thông đã làm nức lòng bao người mà sao người nông dân vẫn không thể thoát khỏi cảnh nghèo đói, nỗi lo cơm ăn áo mặc hằng ngày?”

Nhen nhóm cơ hội tìm ra một giải pháp cho nỗi lo người nông dân

Đến thời điểm bước chân vào cánh cổng trường đại học, tôi chọn một ngành học với mong muốn có thể giúp tôi giải đáp được phần nào những câu hỏi đó – Ngành Công nghệ sinh học về Nông nghiệp.

Trong thời đại người người nhà nhà chuyển từ làm lụng bằng tay chân sang sử dụng máy móc công nghiệp, dân cày bỏ ruộng lên thành phố kiếm cơm, hàng ngàn nhà máy xí nghiệp mọc lên san sát nhau làm cho diện tích đất trồng trọt và người lao động thiếu thốn ít nhiều. Công nghệ sinh học ra đời nhằm tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất, chất lượng và mang lại hiệu quả kinh tế cao, từ đó nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của các nông sản hàng hóa, tăng nhanh tỷ lệ nông – lâm – thủy sản chế biến xuất khẩu.

Sự lựa chọn Ngành học Công nghệ sinh học về Nông nghiệp thực sự là một ngôi sao sáng trong cuộc đời tôi, nó chưa hẳn đã trả lời được những thắc mắc thuở ban đầu, nhưng nó đã gợi ý cho tôi một lối thoát cho sự túng quẫn, nghèo khổ của người nông dân. 

Ở giảng đường đại học, tôi được đồng hành với những bạn trẻ cùng chung hướng đi là Nông nghiệp sạch, phát triển bền vững cho Nông nghiệp, giúp nông dân thoát khỏi cảnh “ruộng không nuôi nổi người, miền quê không còn là nơi đáng sống”. Thời gian được học và trải nghiệm ở đây đã tạo dựng cho tôi một nền tảng kiến thức liên quan đến Nông nghiệp.

Thấu hiểu nỗi lo của người nông dân qua lăng kính thực tế

Đối với Nông nghiệp ở thành thị, câu chuyện tìm việc làm như “mò kim đáy bể”. Với một cô bé mới ra trường, tôi không biết nên tìm công việc như thế nào mới phù hợp với ngành nghề mình học. Khi mới ra Trường, tôi vào bệnh viện Ung bướu làm việc với vị trí không liên quan đến ngành học, đó là Cung cấp các thiết bị y tế.

Ở đây thật sự kinh khủng, trong khoảng thời gian 1 năm rưỡi, tôi đã nhìn thấy vô vàn người bệnh bị nhiễm hóa chất dẫn đến ung thư giai đoạn cuối – những cơn đau khó lành. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến ung thư, và một trong số đó là liên quan đến hóa chất trực tiếp và gián tiếp,  những loại hóa chất để kiểm soát sâu bệnh và làm cây trái ngon hơn như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt nấm và phân bón từ vùng trồng đến thực phẩm trao tận tay người dùng. Tôi thấy lo khi thực phẩm – nguồn nông sản do chính tay người nông dân tạo ra lại là mầm bệnh tích tụ trong cơ thể của người tiêu dùng từ ngày này qua tháng khác, và lo hơn về căn nguyên của vấn đề này. Đâu sẽ là lối thoát cho họ, cho chính người tiêu dùng?

Theo Tổ chức Lương Thực & Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc, nông dân trên toàn cầu bị thiệt hại khoảng 30-40% sản lượng cây trồng do dịch hại và sâu bệnh khi không sử dụng hóa chất nông nghiệp. Đối với nước ta, hằng năm có hàng nghìn hecta cây trồng và hoa màu bị phá hủy bởi các loài sâu bệnh và bệnh nấm (theo Cục Bảo vệ thực vật), nó gây thiệt hại rất lớn cho người nông dân. Vì thế, người nông dân với mong muốn sản xuất nhiều, bán được càng nhiều càng tốt, càng nhanh càng hay, họ phải sử dụng các loại hoá chất vô tội vạ, dẫn đến hậu quả vô cùng tai hại cho chính họ và người tiêu dùng.

Chìa khóa “Nông nghiệp sạch” ở Green Edu

Vẫn khao khát thuở nhỏ, đi tìm một nền nông nghiệp Việt có vị thế trên thế giới, một nền Nông nghiệp sạch và những gì hiện ra trước mắt tôi càng thôi thúc bản thân hơn, tôi đặt hồ sơ xin việc vào tất cả những nơi có thể giải quyết được vấn đề nông nghiệp hiện tại, và cơ hội từ Green Edu đã mỉm cười.

Tôi đã gia nhập vào đội VCA trong chương trình VCAP – Chương trình Phát triển Cộng sự Chuỗi giá trị với mong muốn sẽ giải đáp được câu hỏi mà bản thân trăn trở bấy lâu về các vấn đề trong lĩnh vực Nông nghiệp – Nông thôn – Nông dân.

Cùng đội VCA đi đến nhiều nơi, có một lần tôi được trải nghiệm sinh hoạt 5 ngày tại 1 nông trại ở Đà Lạt. Hằng ngày, cùng sinh hoạt với người nông dân, ăn chính những nông sản do chính mình vun trồng. Chúng tôi được nghe câu chuyện của anh chủ nông trại, biết được động lực của anh là vì tình yêu với môi trường, thiên nhiên, anh sẵn sàng tháo bỏ nhà kính để quay lại cách trồng truyền thống. Anh kể, từ lúc dỡ khu nhà kính với suy nghĩ “nhà kính như cái lồng đầy thuốc độc”, vườn dâu cũ đang cho thu nhập hàng trăm triệu bị lụi tàn dần vì không hề phun thuốc, bón phân, nhưng dâu tàn thì rau dại, cỏ dại lại mọc um tùm. Khi đất bắt đầu tự thải độc và phục hồi được, những loại cây anh trồng như cà chua socola, atiso, cần tây … bắt đầu sống khỏe trên đất mà chẳng cần phân thuốc. Và Anh tham gia dự án “Trả lại mảng xanh cho Đà Lạt”.

Câu chuyện của anh đã truyền cảm hứng, tôi nhận ra rằng vẫn còn nhiều người muốn được góp sức của mình để trong vấn đề biến đổi khí hậu. Ở ngoài kia, những người như vậy luôn mang trong lòng một tình yêu với từng cành cây ngọn cỏ, nhưng vẫn đang phải loay hoay tìm điểm bắt đầu. “Có người phải mất đi gần nửa gia tài để có thể định hướng được sự phát triển mảnh vườn của mình. Có người may mắn hơn, họ tìm được người cùng chí hướng để thực hiện cùng nhau…” Và tôi biết rằng, team VCA chúng tôi sinh ra với sứ mệnh đi tìm họ để giúp đỡ họ trên con đường đó.

Value Chain Associate Program (VCAP) là chương trình phát triển và tạo môi trường cho tài năng trẻ ở  tất cả các ngành nghề phát huy thế mạnh và cống hiến cho cộng đồng, cho hệ sinh thái Nông nghiệp ngày càng hưng thịnh. Là một Associate (Cộng sự), bạn sẽ trở thành những “chiến binh” trang bị đầy đủ kỹ năng với sứ mệnh giải quyết các vấn đề Nông nghiệp – Nông thôn – Nông dân theo định hướng chuỗi giá trị và thị trường. Để trở thành một phần của VCAP – chương trình Cộng sự chuỗi giá trị như Ân, ứng tuyển vào chương trình VCA cùng chúng tôi ngay.

Cỏ cây nuôi dưỡng tôi – Tôi phụng sự cho Người

Cỏ cây nuôi dưỡng tôi – Tôi phụng sự cho Người

Cây cỏ – Người bạn nhiệt thành của đời mình

Mình là Huyền, sinh ra và lớn lên trong gia đình làm nông ở một vùng ngoại ô của Hà Nội, nơi có con sông Hồng chảy qua khiến cho vùng đất này trở nên màu mỡ, phù hợp cho việc canh tác nông nghiệp. Vì thế bức tranh tuổi thơ mỗi khi nhớ lại là rong ruổi trên đồng ruộng, thấm đượm mùi thơm ngạt ngào của hương lúa chín, tiếng kêu của lũ cào cào, châu chấu trên những triền cỏ mềm … Cây cỏ – Tạo vật tuyệt vời này đã nuôi lớn và gắn bó với mình đến tận bây giờ. Điều đó làm mình biết ơn vô cùng!

Đến năm 2012, khi được học ở ngôi trường đại học Nông nghiệp khoa Công nghệ Sinh học, mình mới có cơ hội được khám phá nhiều hơn về từng loại cây trồng và rộng hơn nữa là nghiên cứu về cách ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam.

Mình còn nhớ cảnh thuở nhỏ, những người hàng xóm khổ lắm, chăm làm nhưng vẫn luôn thiếu ăn, thiếu mặc, cái nghèo cứ đeo bám mãi không thôi. Lúc đó chỉ biết bán mặt cho đất, bán lưng cho trời và mong đến vụ thu hoạch được thật nhiều gạo và rau màu. Có nhiều đợt thiên tai bão lụt, gia đình nào cũng lo mùa vụ đợt này không thu hoạch được gì.

Khi được tiếp cận với ngành Công nghệ sinh học, mình biết rằng luôn có phương pháp để cải thiện các giống lúa, tăng sản lượng cũng như chất lượng gạo để đối phó với tình hình biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp ở Việt Nam, và cũng tăng thu nhập cho người nông dân.

Theo mình được biết, ở Việt Nam đã có nhiều thành công trong việc ứng dụng Công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp. Điển hình là, Viện Lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long đã phát hiện ra giống lúa có năng suất cao và chất lượng tốt; nghiên cứu thành công công nghệ biến đổi gen để tạo ra giống lúa có hàm lượng dinh dưỡng cao và có khả năng chịu đựng hạn hán; hay Viện Cây ăn quả miền Nam nghiên cứu thành công công nghệ nhân giống cây có múi không bệnh – những giống cây có múi có khả năng chống chọi với một số bệnh do vi rút gây ra;….Hơn thế nữa, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã nghiên cứu và áp dụng những thành tựu công nghệ sinh học trong sản xuất phân bón hữu cơ nhằm hướng tới một nền nông nghiệp xanh bền vững.

Với tất cả sự đam mê khám phá những kiến thức về cây trồng và có được sự giúp đỡ từ những người bạn cùng khoa Công nghệ Sinh học, mình đã nhận được tấm bằng loại ưu trong ngày lễ tốt nghiệp, để chính thức tiếp tục bước vào môi trường “ứng dụng Công nghệ sinh học trong sản xuất Nông nghiệp” thực tế.

Với tay chạm đến nền Nông nghiệp ở đất nước Israel

Thời điểm cầm trên tay tấm bằng đại học là lúc mình hoang mang nhất, mình lo lắng về câu chuyện tìm việc đúng với ngành học và tự hỏi “Nên về quê phụ giúp bố mẹ làm ruộng hay tìm một công việc trái ngành ở thành phố?” vì ngành học của mình kiếm việc khó lắm. Tâm trạng lo lắng kéo dài không lâu thì mình may mắn nghe ngóng được một vài thông tin tuyển dụng từ chương trình thực tập sinh mang tên “Israel” – Chuyến đi thực tập thực tế tại những “nhà nông dân” ở đất nước Israel.

Sau vài tháng chờ đợi và phỏng vấn với nhiều bên, mình đã may mắn được chọn tham gia chuyến đi lần này.  Để đến được đất nước Israel với mình không hề đơn giản và dễ dàng, mình chỉ dám nhìn về phía trước và dặn lòng “không được bỏ cuộc”. Cho đến khi đặt chân ở sân bay thì mình mới dám chắc chắn rằng mình đã đến Israel – Nhà xuất khẩu lớn của thế giới về nông sản và đứng hàng đầu về công nghệ trong nông nghiệp.

“Không có giáo trình nào tốt bằng cách học trực tiếp”, mình cảm nhận được điều đó khi được sống, học tập và làm việc trực tiếp với người chủ ở nông trại mà mình đã chọn. Giáo dục ở Israel giống với phương Tây là họ trao quyền chủ động cho bạn, tức bạn hỏi, giáo viên trả lời. Ở đây, những “nhà nông dân” không chỉ giỏi về kỹ thuật trồng trọt mà họ còn thông thạo kiến thức kinh doanh để lên kế hoạch dài hạn “nâng cao giá trị nông sản” của họ. Trong quá trình cùng lăn xả trồng cây theo sự hướng dẫn của ông chủ nông trại, nhóm sinh viên chúng mình được dạy rằng “Người sản xuất là người được nhận ít giá trị nhất”. Đây là động lực chính để người nông dân Israel ngày một nỗ lực nhiều hơn để trở thành một Nông dân Doanh nhân – người có thể hưởng thụ cuộc sống thanh bình ở đồng quê mà không phải lo “cơm ăn áo mặc” qua ngày.

Không những được trải nghiệm thực tế ở ngoài đồng ruộng, nhóm chúng mình còn được vận dụng lý thuyết đã học để thực hành trong các lớp học ở Israel. Các môn học trong chương trình đào tạo không chỉ là những môn học về nông nghiệp cơ bản mà còn bao gồm cả những kiến thức hỗ trợ như marketing, tài chính, hay lập kế hoạch kinh doanh. Trong tiết học này, các bạn sinh viên sẽ được đóng vai thành các nhóm khởi nghiệp, mỗi nhóm sẽ lên các ý tưởng và lập một kế hoạch vận hành cho ý tưởng đó dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Ngày thuyết trình của các lớp học đều như  chương trình “Shark Tank” thu nhỏ với những màn trình bày, chất vấn nảy lửa và cả những cân nhắc đầu tư khá kỹ lưỡng.

Trải qua thời gian thực tập ở các lớp học, mình chợt nghĩ về viễn cảnh tuyệt đẹp khi trở về Việt Nam, giá như có những khóa đào tạo cho sinh viên về Nông nghiệp như thế này ở Việt Nam thì thật tuyệt. Những chương trình này sẽ giúp những bạn trẻ như mình có cơ hội để nâng cao kỹ năng, kiến thức thông qua học và làm thật, có thể sống, làm việc với đam mê thực sự của bản thân. Từ đó, trong lòng mình luôn mong mỏi tìm được một nơi có thể giúp mình hiện thực hóa viễn cảnh đó.

Hành trình hiện thực hóa ước mơ

Về Việt Nam …

Chỉ sau vài tháng làm việc “trải nghiệm” tại Hà Nội, mình nhận được thông tin tuyển dụng của Green Edu từ một người bạn. Mình đã nộp đơn ứng tuyển không chút do dự vì biết rằng thành viên của Green Edu cũng có mong mỏi y hệt mình và đang trên con đường tìm kiếm những nhân tố mới để cùng thực hiện điều đó. Mình tự nhủ “Trẻ mà lo gì, cứ mạnh dạn bước tiếp, tiếp tục chinh phục đỉnh núi của bản thân!”

Ở Green Edu

Lần đầu tiên chân ướt chân ráo đến Sài Gòn còn nhiều bỡ ngỡ nhưng thật may mắn, mình đã gặp được những con người tuyệt vời cùng chí hướng, cùng sự nhiệt huyết và đôi khi là cả sự điên loạn của tuổi trẻ nữa. Mình hiểu rõ con đường góp sức để giải quyết những khó khăn của nền nông nghiệp của cả một đất nước như này thì vô cùng khó khăn và cần nhiều thời gian. Nhưng nếu ai cũng lảng tránh thì vấn đề vẫn còn đó, thậm chí còn tệ hơn đúng chứ?

Trong thời gian đầu, mình gia nhập vào đội VCA – những bạn trẻ được đào tạo trong chương trình VCAP (Chương trình Phát triển Cộng sự Chuỗi giá trị) có mong muốn phát triển bản thân để cùng nhau giải quyết một phần khó khăn cho người nông dân Việt. Một trong những chương trình được VCA lên kế hoạch là Green Talk – Những buổi gặp mặt nhỏ với các khách mời là người có kinh nghiệm và chuyên môn từ nhiều ngành nghề khác nhau. Họ chia sẻ những kiến thức của mình để lan tỏa ra cộng đồng những nhận thức đúng đắn về cuộc sống xanh, thịnh vượng và phụng sự. Green Talk được xem là một nơi rất lý tưởng đối với những bạn trẻ có mong muốn tìm hiểu về lĩnh vực liên quan và kết nối với cộng đồng Xanh.  Chương trình này sẽ còn phát triển hơn nữa và chúng mình sẽ tiếp tục lên kế hoạch cho thật nhiều dự án hay, sáng tạo và mang tính thực tiễn như Green Talk. 

Steve Job đã nói “..Bạn chỉ có thể kết nối các điểm khi nhìn lại phía sau..” Mình cũng tin rằng, những dự án nhỏ của đội VCA khi được kết nối với nhau sẽ tạo ra điều có ích cho các bạn trẻ có niềm đam mê Nông nghiệp, làm cho các bạn càng yêu Nông nghiệp nhiều hơn! 

Value Chain Associate Program (VCAP) là chương trình phát triển và tạo môi trường cho tài năng trẻ ở  tất cả các ngành nghề phát huy thế mạnh và cống hiến cho cộng đồng, cho hệ sinh thái Nông nghiệp ngày càng hưng thịnh. Là một Associate (Cộng sự), bạn sẽ trở thành những “chiến binh” trang bị đầy đủ kỹ năng với sứ mệnh giải quyết các vấn đề Nông nghiệp – Nông thôn – Nông dân theo định hướng chuỗi giá trị và thị trường. Để trở thành một phần của VCAP – chương trình Cộng sự chuỗi giá trị như Huyền, ứng tuyển vào chương trình VCA cùng chúng tôi ngay.

Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam

Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam

Bài viết là kết quả tìm hiểu kinh nghiệm dẫn tới thành công của một số hệ sinh thái khởi nghiệp trên thế giới, từ đó đưa ra những đề xuất cụ thể để tạo ra môi trường thuận lợi cho hoạt động của startup tại Việt Nam.

Hệ sinh thái khởi nghiệp là gì?

Khái niệm về hệ sinh thái khởi nghiệp gần đây được sử dụng rộng rãi trong ngữ cảnh sáng tạo và kinh doanh. Mặc dù không có định nghĩa riêng, chính thức về hệ sinh thái khởi nghiệp và thuật ngữ này được sử dụng theo nhiều cách khác nhau, song về cơ bản, nó đề cập đến một khu vực địa lý cụ thể hoặc “điểm nóng” (ví dụ như Thung lũng Silicon) với sự tập trung đông đảo các công ty và doanh nghiệp khởi nghiệp.

Phạm vi của hệ sinh thái khởi nghiệp có thể thay đổi từ một vài tòa nhà cho đến cả một quốc gia. Ví dụ, Báo cáo Xếp hạng Hệ sinh thái Khởi nghiệp Toàn cầu, được coi là phân tích tổng hợp quốc tế toàn diện nhất, định nghĩa hệ sinh thái khởi nghiệp là “một khu vực đô thị hoặc khu vực địa lý (bán kính khoảng 100km) có sử dụng chung các nguồn lực” .

Giống như các hệ sinh thái tự nhiên, chẳng hạn rừng nhiệt đới, một đặc điểm của hệ sinh thái khởi nghiệp là sự phụ thuộc lẫn nhau (hoặc “có chung đời sống”) của các thực thể khác nhau trong hệ sinh thái đó. Nói cách khác, các hệ sinh thái không phải là các cá nhân hoặc nhóm các nhân, mà là mối quan hệ giữa họ. Các đặc điểm này cũng phân biệt hệ sinh thái với các khái niệm khác như là cụm.

Các thành viên chính của hệ sinh thái khởi nghiệp rõ ràng là các doanh nghiệp khởi nghiệp. Các thành viên khác được coi là một phần của hệ sinh thái, bao gồm: các quỹ và các nhà đầu tư, các vườn ươm, các chương trình tăng tốc khởi nghiệp (accelerator) và các nhà cung cấp dịch vụ khác (cả nhà nước và tư nhân) cũng như các quá trình, các sự kiện và các thực thể khác (như các cuộc gặp gỡ trao đổi, các cuộc thi).

Một số kinh nghiệm quốc tế

Hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam còn tương đối non trẻ trong quá trình phát triển, do đó các hệ sinh thái đang phát triển tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng có thể học hỏi từ kinh nghiệm ở các nước trên thế giới. Phần này sẽ nghiên cứu ba hệ sinh thái từ các lục địa khác nhau với thành công cũng rất khác nhau, đó là: New York, Singapore và Amsterdam. Tác giả sẽ trình bày tổng quan về mỗi hệ sinh thái và diễn giải các chính sách, các chương trình và công cụ chính được sử dụng để hỗ trợ hệ sinh thái.

New York

New York thường xuyên được xếp vào một trong những hệ sinh thái phát triển nhất thế giới. Trong thập niên vừa qua, New York ngày càng trở nên nổi tiếng vì là một thành phố công nghệ cao. Ước tính, hệ sinh thái công nghệ của New York bao gồm 291.000 công việc về công nghệ, tạo ra 541.000 việc làm nói chung, chiếm 12,6% tổng số việc làm trong thành phố.

Số lượng các doanh nghiệp khởi nghiệp tập trung vào công nghệ hoặc liên quan đến công nghệ cũng tăng nhanh và các công ty này tạo ra một tỷ trọng đáng kể các doanh nghiệp khởi nghiệp trong hệ sinh thái. Đáng chú ý là vốn đầu tư mạo hiểm liên quan đến công nghệ ở New York cũng tăng lên giai đoạn 2007-2011, trong khi các khu vực dẫn đầu về công nghệ khác ở Mỹ đang đối mặt với sự sụt giảm về đầu tư mạo hiểm. Mặc dù Thung lũng Silicon đang là trung tâm công nghệ hàng đầu ở Mỹ, New York vẫn có tầm quan trọng trong lĩnh vực công nghệ và có tác động lớn đối với hệ sinh thái khởi nghiệp của thành phố.

Cũng liên quan đến xếp hạng cao của thành phố, New York có rất nhiều thế mạnh và chỉ có một chút yếu điểm liên quan đến khả năng và sự sẵn sàng đứng ra chủ trì và phát triển một hệ sinh thái khởi nghiệp sôi động. Là một trong những trung tâm tài chính của thế giới, không có gì đáng ngạc nhiên rằng, một trong những thế mạnh dễ thấy nhất của New York là tiếp cập vốn.

Thành phố cũng có kết cấu hạ tầng vững chắc cho kinh doanh, thị trường vươn xa tính theo GDP của hệ sinh thái địa phương cũng như việc tiếp cận khách hàng tại các thị trường quốc tế. Những điểm mạnh khác của hệ sinh thái New York bao gồm kinh nghiệm khởi nghiệp dày dặn, có nghĩa là sở hữu nhiều cố vấn khởi nghiệp và những nhà sáng lập đã có kinh nghiệm khởi nghiệp trước đây, cũng như kinh nghiệm về phê duyệt và cấp vốn cho các startup.

Xét đến khía cạnh chất lượng, chi phí và mức độ sẵn có của các nhân tài kỹ thuật, New York là một trong 10 thành phố hàng đầu thế giới. Điểm yếu nhất của thành phố này là môi trường pháp lý, tức là không phải lúc nào cũng ủng hộ các mô hình kinh doanh mới và sáng tạo như Airbnb (dịch vụ chia sẻ chỗ ở thông qua ứng dụng công nghệ thông tin, điện thoại di động…) và Uber.

Digital.NYC, trung tâm trực tuyến chính thức của hệ sinh thái khởi nghiệp và công nghệ New York, có gần 8.000 công ty khởi nghiệp có website riêng. Ở New York, có hơn 100 chương trình tăng tốc và ươm tạo, trong đó nhiều chương trình chuyên sâu vào một lĩnh vực tập trung nào đó (ví dụ một ngành cụ thể, các chủ doanh nghiệp là nữ…), và các công ty và doanh nghiệp khởi nghiệp có hơn 120 nơi làm việc và không gian làm việc chung để lựa chọn. Đồng thời, các lựa chọn cấp vốn cũng rất đa dạng bởi có đến hơn 200 quỹ mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần và các cơ hội tài trợ khác trong thành phố.

Mặc dù sự sôi động của hệ sinh thái khởi nghiệp New York dựa vào hoạt động của các thành phần tư nhân và cộng đồng khởi nghiệp (doanh nghiệp khởi nghiệp, các doanh nghiệp thiên thần, các nhà đầu tư, các chương trình tăng tốc, các cuộc họp mặt…), các chính sách và hoạt động của khu vực công cũng đóng một vai trò quan trọng.

Ngoài các chính sách hỗ trợ gián tiếp cho hệ sinh thái liên quan đến kết cấu hạ tầng, giáo dục, đại học và sức hấp dẫn chung của thành phố, cũng có một vài chính sách – cả ở cấp độ bang và cấp thành phố – có mục tiêu trực tiếp là hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp và hệ sinh thái khởi nghiệp. Hơn nữa, bang New York còn ban hành một số chính sách và sáng kiến để hỗ trợ phát triển các hệ sinh thái khởi nghiệp trong phạm vi toàn bang.

Singapore

Singapore là một trong những trung tâm tài chính của thế giới và là một trong những trung tâm khởi nghiệp quan trọng ở Đông Nam Á. Sở hữu một môi trường kinh doanh thân thiện, vị trí địa lý thuận lợi cùng với số lượng người tiêu dùng và các tập đoàn đa quốc gia đủ lớn, Singapore trở thành một địa điểm lý tưởng cho doanh nghiệp khởi nghiệp khởi động kinh doanh. Ngày nay, đã có hàng ngàn doanh nghiệp khởi nghiệp đặt tại đây và hệ sinh thái khởi nghiệp này đang tiếp tục phát triển và mở rộng.

Thế mạnh chính của Singapore là môi trường kinh doanh, môi trường chính trị thân thiện và cơ sở hạ tầng, nền kinh tế sôi động, dễ tiếp cận thị trường quốc tế và đầu tư nước ngoài, cũng như hệ thống giáo dục chất lượng cao tạo ra nhiều nhân tài cho hệ sinh thái. Tuy nhiên, cũng có một số điểm yếu khi xét đến sự hấp dẫn của Singapore đối với các doanh nghiệp, ví dụ như chi phí sinh hoạt đắt đỏ và thị trường nội địa nhỏ.

Một trong những yếu điểm đáng ngạc nhiên nhất của hệ sinh thái là văn hóa Singapore, nơi mà các doanh nhân không có địa vị xã hội cao. Do vậy, những người trẻ tài năng gặp áp lực tìm kiếm công việc trong các công ty đa quốc gia lớn thay vì khởi nghiệp, điều này khiến cho việc thu hút những người giỏi nhất làm việc cho hệ sinh thái khởi nghiệp trở nên khó khăn – và buộc các startup Singapore phải dựa vào lực lượng lao động nước ngoài .

Hệ sinh thái khởi nghiệp của Singapore bao gồm tất cả các thành phần cần thiết cho một hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển và sôi động; có nhiều loại hình doanh nghiệp khởi nghiệp, vườn ươm, chương trình tăng tốc khởi nghiệp và các lựa chọn cấp vốn. Trong những năm gần đây, hệ sinh thái này có sự tăng trưởng nhanh chóng: số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp đã tăng gấp đôi từ năm 2005 đến 2013, tương ứng 24.000 lên 42.000 doanh nghiệp. Có ít nhất 20-30 chương trình tăng tốc/ươm tạo ở Singapore; số vốn sẵn sàng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ đã tăng đáng kể trong những năm gần đây; đầu tư đã tăng 5 lần từ năm 2012 đến 2015. Ngoài ra, cũng có một số lượng lớn các hiệp hội, sự kiện, cuộc thi và các không gian làm việc chung cũng như các quỹ đầu tư mạo hiểm.

Chính phủ Singapore luôn hỗ trợ tích cực cho hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia. Những sáng kiến đầu tiên được đưa ra từ những năm 1990 dưới hình thức các chương trình cấp vốn và các biện pháp khuyến khích hướng tới doanh nghiệp khởi nghiệp. Vào giữa những năm 2000, các chính sách được đẩy mạnh, giúp gia tăng các sự kiện khởi nghiệp, các vườn ươm, các chương trình tăng tốc.

Từ năm 2011 đến 2015, chính phủ Singapore đã dành hơn 11 tỷ USD để tăng cường nghiên cứu, đổi mới và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp. Tính đến cuối năm 2015, có trên 10 chương trình cấp vốn khác nhau (cho vay, tài trợ, góp vốn cổ phần…) cho doanh nghiệp khởi nghiệp cũng như nhiều chương trình khác nhằm giúp các doanh nghiệp có được không gian làm việc văn phòng và tiếp cận các chuyên gia cố vấn. Có thể nói rằng, các chương trình hỗ trợ tài chính ở Singapore đã giúp thu hút các doanh nghiệp trong toàn khu vực đến hệ sinh thái Singapore. Một đặc điểm quan trọng trong việc thực hiện các chương trình hỗ trợ tài chính là nó không nhất thiết phải phân bổ trực tiếp cho các công ty, mà cho các thành phần khác như vườn ươm và trường học nhằm giúp xây dựng hệ sinh thái.

Mặc dù các chương trình cấp vốn có thể được coi là công cụ chính sách quan trọng nhất ở Singapore, nhưng cũng cần lưu ý rằng nước này cũng chú trọng các loại hình hỗ trợ khác.

Ví dụ, Chương trình Thẻ Doanh nhân Singapore (EntrePass) được khởi động năm 2004 để thu hút các doanh nghiệp nước ngoài tới Singapore. Một ví dụ khác về hỗ trợ phi tài chính là sáng kiến Accreditation@IDA, nhằm chứng nhận các công ty công nghệ ở giai đoạn đầu của Singapore “có đủ tiêu chuẩn để đáp ứng cho chính phủ và các doanh nghiệp lớn”, và “xây dựng hệ sinh thái kỹ nghệ để phát triển kinh tế, truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ, xây dựng nhiều sản phẩm sáng tạo và các công ty công nghệ có thể mở rộng ở nước ngoài”.

Chương trình ACE (Cộng đồng Hành động vì Doanh nghiệp) do Chính phủ chủ trì là một sáng kiến nhằm củng cố văn hóa và cộng đồng khởi nghiệp ở Singapore. Mục đích là cung cấp nguồn lực và mạng lưới cho các doanh nghiệp triển vọng, đại diện cho doanh nghiệp và vận động cho các thay đổi chính sách phù hợp. Chương trình này cũng hỗ trợ khởi nghiệp tại các trường học và trong giới trẻ.

Singapore đã xây dựng được những thể chế đủ mạnh để thực thi các chính sách về đổi mới và khởi nghiệp. Ví dụ, Quỹ Nghiên cứu Quốc gia (NRF) có thể xây dựng các chính sách quốc gia, các kế hoạch và chiến lược cho nghiên cứu, đổi mới, cũng như các quỹ, sáng kiến chiến lược và xây dựng năng lực về R&D, đặc biệt thông qua chương trình Khuôn khổ Quốc gia về Sáng kiến và Doanh nghiệp (NFIE). NFIE bao gồm một loạt các chương trình được thiết kế cụ thể cho doanh nghiệp khởi nghiệp và hệ sinh thái khởi nghiệp. Trong đó, gồm các quỹ mạo hiểm giai đoạn đầu, qua đó NRF đầu tư với các quỹ mạo hiểm (tỷ lệ 1:1) ở các công ty công nghệ ở Singapore. Một công cụ khác là chương trình ươm tạo công nghệ, hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp khởi nghiệp được ươm tạo bởi các vườn ươm công nghệ.

Một tổ chức quan trọng khác là SPRING, trực thuộc Bộ Thương mại và Công nghệ. Cơ quan này chịu trách nhiệm “giúp các doanh nghiệp Singapore tăng trưởng và xây dựng niềm tin vào sản phẩm và dịch vụ của Singapore”. SPRING cung cấp các khoản tài trợ khác nhau và các chương trình thuế cho các công ty. Mặc dù SPRING phục vụ hầu hết các doanh nghiệp ở Singapore, nhiều chương trình tài trợ (ví dụ như Hạt giống SPRING, Chương trình Kinh doanh Thiên thần và Chương trình Khởi nghiệp ACE) được thiết kế cho khởi nghiệp và các thành phần khác trong hệ sinh thái. Thông qua việc phối hợp với các cơ quan nhà nước và các đối tác trong các ngành, SPRING cũng vận hành một cổng thông tin cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa để cung cấp các thông tin về pháp luật kinh doanh, hỗ trợ của chính phủ, các thông tin cụ thể theo ngành.

Tổ chức quan trọng thứ ba là Cơ quan phát triển Thông tin và Truyền thông Singapore (IDA), một đơn vị tự chủ trực thuộc Bộ Thông tin Truyền thông. Cơ quan này có nhiệm vụ “xây dựng công nghệ và viễn thông ở Singapore nhằm phục vụ người dân ở mọi lứa tuổi và các công ty thuộc mọi quy mô”. Cơ quan này hỗ trợ sự phát triển của các công ty công nghệ sáng tạo, các doanh nghiệp khởi nghiệp và phát triển một “hệ sinh thái viễn thông sôi động, nơi mà các công ty đa quốc gia và các công ty khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực thông tin truyền thông”. IDA cũng hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp tiếp cận thị trường toàn cầu. Một công cụ quan trọng của việc hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp (công nghệ) là Công ty Đầu tư Thông tin truyền thông (IIPL), một công ty con của IDA.

Amsterdam

Amsterdam có một hệ sinh thái khởi nghiệp sôi động và đang phát triển, đây là một trong những hệ sinh thái lớn nhất ở châu Âu. Điểm mạnh của Amsterdam là nằm ở vị trí địa lý trung tâm, môi trường quốc tế, hệ thống giáo dục cao cấp tạo ra lực lượng lao động trí thức và đủ khả năng thử nhiệm các sản phẩm và dịch vụ mới.

Điều đáng chú ý nhất trong trường hợp của Hà Lan, đó là việc hệ sinh thái không bị giới hạn ở thủ đô Amsterdam, mà còn mở rộng 13 thành phố và khu vực khác của Hà Lan nữa. Những trung tâm này được liên kết nhau, mỗi địa điểm lại tập trung vào một lĩnh vực cụ thể (ví dụ: y tế, thực phẩm và nông nghiệp, an ninh mạng…). Ngoài 13 trung tâm khởi nghiệp, Hà Lan cũng có số lượng khá lớn các công ty khởi nghiệp và các thành phần liên quan khác, như các chương trình tăng tốc khởi nghiệp, các nhà đầu tư và không gian làm việc chung.

Hệ sinh thái khởi nghiệp của Hà Lan bao gồm hơn 3.000 công ty khởi nghiệp, 300 nhà đầu tư, 40-50 chương trình tăng tốc/ươm tạo và 10 tổ chức công (bao gồm cả các trường đại học). Ngoài sự tham gia hàng ngày của các tổ chức công trong hệ sinh thái khởi nghiệp, Hà Lan cũng xây dựng hai chương trình khởi nghiệp lớn đó là Startup Delta (chương trình quốc gia) và StartupAmsterdam (sáng kiến địa phương).

Một vài năm trở lại đây, chính sách doanh nghiệp đầy tham vọng đã chuyển thành kế hoạch hành động (Kế hoạch Hành động về Kinh Doanh có Tham vọng), qua đó chính phủ ban hành một số biện pháp để hỗ trợ các startup và doanh nghiệp nói chung đạt được tham vọng của mình để tăng trưởng. Chính phủ đã dành khoản ngân sách trị giá 75 triệu Euro nhằm thúc đẩy tiếp cận vốn, kiến thức, sáng tạo và thị trường toàn cầu. Các biện pháp cụ thể bao gồm:           

– Cung cấp tài chính giai đoạn đầu để các doanh nhân có thể nghiên cứu liệu một ý tưởng hay sản phẩm có khả thi về mặt kỹ thuật và phù hợp với thị trường hay không.

– Tăng cường vị thế quốc tế cho doanh nghiệp khởi nghiệp và phát triển kinh doanh và thu hút các doanh nghiệp khởi nghiệp nước ngoài đến Hà Lan thông qua sáng kiến StartupDelta.

– Cung cấp các giấy phép lưu trú tạm thời (visa khởi nghiệp) cho các doanh nghiệp không nằm trong EU, tạo cơ hội cho họ thành lập doanh nghiệp ở Hà Lan.

– Xây dựng sáng kiến Hà Lan tăng tốc (Nlevator) – một nền tảng tạo ra bởi các doanh nhân có tham vọng phát triển doanh nghiệp của mình nhanh hơn.

– Cấp vốn cho dự án Eurostar – các dự án phát triển công nghệ sáng tạo, đưa các đối tác về kinh doanh và kiến thức từ ít nhất hai nước châu Âu vào cùng tham gia.

 – Cấp vốn theo chương trình Horizon 2020 của Uỷ ban châu Âu để kích thích nghiên cứu và sáng tạo ở châu Âu. Bên cạnh các sáng kiến tập trung cụ thể vào các doanh nghiệp khởi nghiệp, chính phủ Hà Lan đã có một vai trò tích cực trong việc hỗ trợ sáng tạo và kinh doanh, có một số biện pháp hỗ trợ kinh doanh cho các startup. Những biện pháp này bao gồm bảo lãnh tính dụng chính phủ, cấp vốn, tín dụng cho đổi mới sáng tạo và ưu đãi thuế cho các hoạt động R&D.

Khuyến nghị cho Việt Nam

Bức tranh startup Việt Nam chỉ mới bắt đầu nổi lên nhanh chóng trong những năm gần đây, song sự phát triển rất đáng chú ý: số lượng startup đã tăng 4 lần từ con số 400 trong năm 2012 lên 1.800 trong năm 2015. Cũng trong thời gian này, số lượng các quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam đã tăng gấp ba lần và số lượng các giao dịch cấp vốn tăng lên theo cấp số nhân. Theo xu hướng này, số lượng các dịch vụ và hoạt động của hệ sinh thái, các sự kiện khởi nghiệp, các vườn ươm danh nghiệp, chương trình tăng tốc và không gian làm việc chung đã tăng đáng kể, góp phần vào sự tăng trưởng chung của hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam.

Bên cạnh sáng kiến của khu vực tư nhân, Chính phủ Việt Nam cùng các nước trong khu vực cũng đã rất tích cực trong việc đưa ra các sáng kiến cấp vốn hướng đến các công ty khởi nghiệp (ví dụ sáng kiến Thung lũng Silicon Việt Nam do Chính phủ tài trợ). Đây là một sự thay đổi về chính trị khi chuyển từ tập trung vào các doanh nghiệp lớn của nhà nước sang hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực tư nhân, việc này cũng góp phần vào sự thay đổi văn hóa cần có để có thể xây dựng được hệ sinh thái khởi nghiệp mới và năng động.

Trong MBI, chúng tôi hiểu rằng Việt Nam giờ đây đã chuyển từ Giai đoạn Mới Xuất hiện sang Giai đoạn Kích hoạt, tức là đang cố gắng bắt kịp với các hệ sinh thái khác bằng cách ứng dụng các thông lệ quốc tế tốt nhất về hỗ trợ khởi nghiệp và hệ sinh thái khởi nghiệp. Điều này đòi hỏi phải phân tích kỹ lưỡng và lập sơ đồ các thành phần trong hệ sinh thái, mối quan tâm, nhu cầu hỗ trợ chính sách của họ. Trong khi đó, Việt Nam cần tiếp tục xây dựng chính sách để củng cố các điều kiện chung cho doanh nghiệp khởi nghiệp.

Tuy nhiên, dù đã có những bước phát triển đáng chú ý trong những năm qua, startup Việt vẫn đang trong giai đoạn khởi động. Cần tiếp tục có sự ủng hộ về mặt chính trị và tạo lập môi trường văn hoá mới để hiện thực hóa đầy đủ tiềm năng của bức tranh startup Việt Nam. Dựa trên kinh nghiệm quốc tế đã phân tích ở trên, chúng tôi đề xuất bốn khuyến nghị nhằm hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam, như sau:

– Xác định, lập bản đồ và phân tích hệ sinh thái khởi nghiệp tiềm năng và các thành phần trong đó, mối quan tâm và nhu cầu hỗ trợ chính sách. Tập trung xây dựng sự phối hợp và lòng tin giữa các thành phần. Các chỉ số và mức xếp hạng hiện tại có thể cung cấp một khuôn khổ tốt và là điểm xuất phát cho nghiên cứu, nhưng cũng cần có các nghiên cứu sâu khác nữa.

– Thiết lập mục tiêu chính sách chung (ví dụ như lộ trình) và kế hoạch thực hiện (với phân bổ trách nhiệm và nguồn lực phù hợp) để hỗ trợ các hệ sinh thái khởi nghiệp. Đảm bảo sự tham gia của các bên tham gia trong khu vực tư nhân và các bên liên quan chính khác trong quá trình này.

– Áp dụng biện pháp tiếp cận tổng thể và xử lý mọi nội dung trong hệ sinh thái khởi nghiệp. Tập trung vào xác định và loại bỏ các rào cản pháp luật (liên quan đến đầu tư, nhân lực, đăng ký kinh doanh, phá sản và thoái vốn), hỗ trợ văn hóa và tư duy doanh nhân cũng rất cần thiết, nhưng cần có sự phân tích kỹ càng.

– Có không gian để thử nghiệm chính sách và áp dụng biện pháp tiếp cận “kết thúc nhanh khi thất bại” trong việc thiết kế và đưa ra các chương trình và sáng kiến chính sách, tránh các thông lệ quá cứng nhắc. Áp dụng quy trình theo dõi và đánh giá để tạo thuận lợi cho việc học hỏi và cải thiện sáng kiến.

Những biện pháp trên sẽ giữ cho hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam đi đúng hướng. Kinh nghiệm của Singapore và Amsterdam cho thấy, cần cung cấp khoản trợ cấp đặc biệt và ưu đãi cho các doanh nghiệp công nghệ trong nước để vượt qua những thách thức ban đầu và khó khăn sau đó. Mặt khác, cung cấp thị thực đặc biệt dành cho các doanh nghiệp nước ngoài có khả năng đưa những ý tưởng mới, chuyên môn và thậm chí cả vốn vào hệ sinh thái.

Các liên kết khu vực cũng rất quan trọng. Giống như các doanh nghiệp Hà Lan đã tìm được các kết nối ở London, Berlin và Dublin, các startup Việt Nam có thể tìm kiếm lợi ích từ việc kết nối với các hệ sinh thái ở Bangkok và Singapore, cũng như các thị trường trong khu vực ASEAN. Các chương trình phát triển khu vực tư nhân như MBI có thể hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận các hệ sinh thái và thị trường khu vực.

Ở các nước phát triển, các hệ sinh thái có thể tự vận động, nhưng ở các nền kinh tế đang phát triển thì cần có sự kết hợp hỗ trợ của chính phủ và các tổ chức phi chính phủ (development sector). Các ví dụ của New York, Singapore, và Amsterdam chứng minh rằng vế sau là đúng. Trên thực tế, các chính phủ đang tham gia tích cực trong việc xây dựng các hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới ở các nước phát triển. Việt Nam có tiềm năng lớn để hình thành các doanh nghiệp công nghệ cao, nhưng vẫn cần được thúc đẩy hơn nữa.

MBI tin tưởng một số lĩnh vực có tiềm năng lớn cho các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam, bao gồm: du lịch (công nghệ du lịch), nông nghiệp (nông nghiệp công nghệ cao), dịch vụ tài chính (công nghệ tài chính), và phát triển đô thị (xây dựng thành phố thông minh). Chúng tôi đang tích cực xây dựng hệ sinh thái đặc biệt để hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ trong các ngành dọc này. Các hệ sinh thái như vậy không chỉ thu hút sự tham gia của các đối tượng trong hệ sinh thái khởi nghiệp và chính phủ, mà còn cả các doanh nghiệp lớn và các nhà đầu tư chuyên biệt.

Trung tâm Sáng kiến Sài Gòn (SIHUB) và Vườn ươm doanh nghiệp Đà Nẵng (DNES) được thành lập bởi các chính quyền địa phương với sự hỗ trợ của MBI vào năm 2016 nhằm hỗ trợ xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp. Những vườn ươm khởi nghiệp này hình thành nên mạng lưới cố vấn, mạng lưới ngành và hỗ trợ tài chính. Ngoài ra, các vườn ươm cũng tạo ra không gian hoạt động cho doanh nghiệp mới khởi nghiệp. Nhờ đó, hoạt động đổi mới sáng tạo có thể được ươm mầm phát triển ở Việt Nam.

Các chương trình thí điểm của DNES và SIHUB đã nâng tầm vị thế của Việt Nam trong việc thúc đẩy hợp tác giữa các cơ quan nhà nước và tư nhân. Môi trường cải thiện và khả thi cho startup có ảnh hưởng lớn đến các hệ sinh thái ở địa phương và trở thành kim chỉ nam cho các startup, nhà đầu tư, nhà tư vấn và quản lý vườn ươm.

Từ khi DNES và SIHUB ra đời, đã có hàng trăm sự kiện đã diễn ra, giúp kết nối với các doanh nghiệp để tìm kiếm hỗ trợ tài chính. Để 2 tổ chức này phát triển mạnh mẽ, Việt Nam phải nhanh chóng tạo sân chơi công bằng giữa hệ sinh thái khởi nghiệp và các doanh nghiệp nhà nước.

Chốt lại, nền kinh tế đang phát triển của Việt Nam được đánh giá là linh hoạt hơn so với New York, Thung lũng Silicon, Singapore và nhiều nước khác. Cụ thể, thị trường Việt Nam đang nhanh chóng thích ứng với công nghệ mới, chứng kiến sự bùng nổ trong phát triển đô thị và du lịch đang phát triển thăng hoa. Việt Nam cũng có lượng dân số trẻ tràn đầy năng lượng và tham vọng, có thể đoán trước những khoảng trống trên thị trường. Đồng thời, các chương trình ươm tạo được quan tâm, chú trọng. Qua phân tích kinh nghiệm thế giới, Việt Nam có tiềm năng để trở thành một trung tâm đổi mới sáng tạo của châu Á.

* Tác giả là Chuyên gia kinh tế cao cấp của ADB và Trưởng dự án MBI
(Theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo)

Cô gái nhỏ bé có một trái tim lớn với nông nghiệp

Cô gái nhỏ bé có một trái tim lớn với nông nghiệp

Chào đón Sài Gòn nhộn nhịp cùng những dãy nhà bê tông san sát nhau, mình tưởng chừng vừa mở mắt ra, đến với thế giới đã bắt gặp hình ảnh này và nó trải dài suốt hơn hai mươi mùa xuân của mình rồi. Thế nên cả tuổi thơ của mình thiếu hẳn một mảng xanh của thiên nhiên cuộc sống.

Lớn lên, mình kết duyên với truyền thông ở trường đại học và sau đó làm các công việc về marketing từ các công ty nhỏ đến tập đoàn đa quốc gia là vì mình mong muốn thấu cảm con người nhiều hơn, đặt tên những cảm xúc được giấu kín của con người nhiều hơn, vì thế Nông nghiệp có lẽ đã lặng lẽ theo mình với vai trò là nguồn thực phẩm nạp vào cơ thể mỗi ngày chờ đợi ngày kết đôi chính thức. 

“Nông nghiệp lặng lẽ theo Khanh như một người tình chờ đợi ngày kết đôi chính thức”

Phải chăng mọi thứ đã được sắp đặt sẵn trước mắt mình, con đường mà mình luôn khao khát tìm kiếm mỗi ngày lại hiển hiện ngay trước mắt mình, chẳng cần tìm đâu xa xôi.

Mình yêu thích đọc những thứ xảy ra xung quanh cuộc sống con người, biết bao bài viết kêu gọi giải cứu trái cây, cuộc sống bấp bênh của người nông dân giữa cơn đại hạn, lũ lụt, và nỗ lực đến kiệt sức khi phải “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” nhưng cuối cùng vẫn bị thương lái nước ngoài chèn ép với cái giá rẻ mạt,… mỗi năm được lên sóng làm mình cảm thấy chạnh lòng.

Mình luôn nhận thấy một thực trạng xảy ra về câu chuyện nông sản Việt đầy tiềm năng nhưng chưa tận dụng được hết các ưu thế của mình ở thị trường trong nước và nước ngoài.

Và rồi, mình quyết định theo đuổi tìm hiểu về con người sâu hơn, mong muốn đóng góp sức mình vào việc giải quyết các vấn đề xã hội.

Mình đã chủ động tìm hiểu và lựa chọn Green Edu là nơi dừng chân tiếp theo của mình trên con đường đi tìm câu trả lời cho câu hỏi cả đời “Làm sao có thể giúp cho người nông dân sống vui vẻ mà người tiêu dùng cũng hạnh phúc với những thực phẩm xanh và sạch?” với vai trò là Cộng sự chuỗi giá trị.

“Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi cả đời “Làm sao có thể giúp cho người nông dân sống vui vẻ mà người tiêu dùng cũng hạnh phúc với những thực phẩm xanh và sạch?”” 

Đặt chân vào Green Edu là một dấu mốc lớn trong đời của mình.

“Không biết gì về nông nghiệp thì có làm nông nghiệp được không?” – Người thân, người quen, ai cũng hỏi mình khi biết được công việc của mình hiện tại.  

Mình tự tin và tự nhủ với bản thân: “Nếu mình muốn, mình sẽ tìm mọi cách để làm, và mọi thứ sẽ tốt.”

Mình bắt đầu dấn thân vào nông nghiệp như một tờ giấy trắng đã chuẩn bị cọ vẽ, mực xịn sò để vẽ lên.

Đến đây, mình được học những kiến thức cơ bản nhất từ thâm canh – độc canh là gì, các tiêu chuẩn chất lượng trong nông nghiệp, cho đến tình hình hiện nay của thị trường rau củ quả, rồi qua những câu chuyện của người nông dân trong chuyến đi trải nghiệm, qua những chuyến tham gia phiên chợ nông sản và trò chuyện với người bán hàng, chủ doanh nghiệp, mình hiểu “còng lưng làm vườn” cũng nhọc lắm nhưng vui lắm, thấy được sự tử tế, tâm huyết với nông sản sạch vẫn luôn hiện diện trên mảnh đất hình chữ S này.

“Nếu mình nghĩ đó là khó khăn thì nó sẽ là khó khăn và làm mình mau nản. Còn nếu mình nghĩ đó là cơ hội tiềm ẩn sau những thử thách, nó sẽ tạo động lực mạnh mẽ để mình vượt qua” – Một bạn trẻ đang theo đuổi nông nghiệp hữu cơ chia sẻ điều này với mình tại phiên chợ nông sản ở Đà Lạt. Các chuyên gia nông nghiệp mà mình gặp cũng nói làm nông nghiệp không hề dễ dàng. Chặng đường phía trước còn dài, mọi thứ chỉ mới là bắt đầu, nhưng mình nghĩ điều gì xuất phát từ cái tâm sẽ trở lại từ cái tâm. Những điều tốt đẹp và tích cực sẽ được lan tỏa nhiều hơn trong cái thời đại mà xã hội có sự khủng hoảng về niềm tin với nhau.

Trai, gái, già, trẻ, giàu, nghèo – Ai làm nông nghiệp cũng được. Quyết tâm là được. Tử tế là được.

 

 

Nội dung & Hình ảnh: Mai Khanh
Biên tập: Tú Lê

Thiết kế: Linh Tâm

Value Chain Associate Program (VCAP) là là chương trình phát triển và tạo môi trường cho tài năng trẻ ở  tất cả các ngành nghề phát huy thế mạnh và cống hiến cho cộng đồng, cho hệ sinh thái Nông nghiệp ngày càng hưng thịnh. Là một Associate (Cộng sự), bạn sẽ trở thành những “chiến binh” trang bị đầy đủ kỹ năng với sứ mệnh giải quyết các vấn đề Nông nghiệp – Nông thôn – Nông dân theo định hướng chuỗi giá trị và thị trường. Để trở thành một phần của VCAP – chương trình Cộng sự chuỗi giá trị như Khanh, ứng tuyển vào chương trình VCA cùng chúng tôi ngay

ỨNG TUYỂN

HƯỚNG ĐI BỀN VỮNG CHO DOANH NGHIỆP TẠO TÁC ĐỘNG XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP

HƯỚNG ĐI BỀN VỮNG CHO DOANH NGHIỆP TẠO TÁC ĐỘNG XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP

Doanh nghiệp tạo tác động xã hội (“Impact Entrepreneur”) là một khái niệm đang dần trở nên phổ biến tại Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là nông nghiệp, vốn được xác định là nền kinh tế mũi nhọn của nước ta. Theo anh, hướng đi bền vững cho doanh nghiệp tạo tác động xã hội trong nông nghiệp là gì?

Trong thời đại đổi mới ngày nay, một doanh nghiệp tạo tác động xã hội muốn phát triển bền vững phải đi theo mô hình chuỗi giá trị và hệ sinh thái. Đối với lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp xanh, điều đó càng quan trọng.

Chuỗi giá trị nông nghiệp là gì?

Chuỗi giá trị nông nghiệp, hiểu một cách đơn giản là một “dây chuyền” sản phẩm nông nghiệp từ đầu vào (hạ tầng, giống) – sản xuất – thu hoạch – chế biến xử lý – mua bán trên thị trường – đến tay người tiêu dùng.

Về cơ bản khi có một chuỗi giá trị hoàn thiện và kết nối được các bên tham gia từ người nông dân, nhà sản xuất, người tiêu dùng và các cấp ban ngành liên quan thì sẽ tạo ra một hệ sinh thái vững mạnh. Điều này góp phần cực kỳ quan trọng trong việc đưa nền nông nghiệp Việt Nam cất cánh và tạo sức cạnh tranh cao trong nền kinh tế thị trường ngày nay.

Xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp liên kết theo chuỗi đang được xem là một hướng đi mới và nhận được nhiều quan tâm từ các doanh nghiệp cũng như chính quyền địa phương.

Chuỗi giá trị nông nghiệp ở Việt Nam đang ở đâu?

Hiện Việt Nam vẫn chưa có một chuỗi giá trị nông nghiệp có thể tạo ra tác động lớn, giúp cho hàng triệu người nông dân, đa phần chỉ mới dừng lại ở cấp độ cá nhân và còn nhỏ lẻ, manh mún.

Theo ông, thực trạng này xuất phát từ những lý do nào? 

Thực trạng này xuất phát từ 3 lý do sau:

1Thứ nhất, nguồn cung và cầu không gặp nhau. Bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào cũng cần tìm được một thị trường tiêu thụ ổn định trước khi tính đến việc sản xuất lâu dài, còn nền nông nghiệp ở Việt Nam thì đi theo hướng ngược lại, từ đó dẫn tới tình trạng “được mùa rớt giá, được giá mất mùa”, rồi người làm ra không biết bán cho ai và người cần mua không biết mua ở đâu. Sản phẩm nông nghiệp xanh (những sản phẩm hạn chế các tác nhân tiêu cực gây ra bởi nông nghiệp tập quán) lại càng gặp nhiều thách thức hơn do những thông tin bất cân xứng giữa người mua và người bán.
2Thứ hai, vai trò của các cấp ban ngành liên quan trong việc đưa ra các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp còn yếu, chưa nhận được sự quan tâm đúng mức cũng như chưa có nhiều nguồn đầu tư lớn mạnh cho lĩnh vực này.
3Thứ ba, thiếu nguồn nhân lực (trí thức trẻ) để có thể đưa ra các sáng kiến đổi mới, áp dụng công nghệ, mô hình kinh tế 4.0 vào nền nông nghiệp hiện tại.

Theo ông, giải pháp cho vấn đề này là gì?

Để có thể giải quyết những khó khăn và thách thức chung hiện tại, từ đó tạo ra một nền nông nghiệp phồn thịnh, tôi tin việc ta cần làm đó là cải thiện hệ sinh thái khởi nghiệp và nguồn nhân lực trong nông nghiệp định hướng theo chuỗi giá trị và thị trường.

Ông Huỳnh Hạnh Phúc, sáng lập & CEO Green Edu

Mô hình Chuỗi giá trị Nông nghiệp giúp các mắt xích phát triển rời rạc liên kết lại với nhau, để tăng sức cạnh tranh và giá trị cho nông sản Việt Nam, góp phần nâng cao sức cạnh tranh và thu nhập, kiến tạo một nông thôn mới với cơ hội mới cho mọi người.

Mắt xích nguồn nhân lực công nghệ cao là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để mô hình Chuỗi giá trị nông nghiệp có thể vận hành. Ngày nay, dù có rất nhiều bạn trẻ quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp xanh, các bạn giỏi và có chí hướng mong muốn làm một điều gì mới mẻ, có tầm ảnh hưởng đối với nền nông nghiệp nước nhà. Nhưng, các bạn lại đang loay hoay, gặp khó khăn trên con đường tìm kiếm nguồn vốn đầu tư, không có nhiều đất canh tác, cũng như không có nhiều kinh nghiệm và kiến thức trong lĩnh vực này. Điều này có thể tạo ra khoảng cách trong việc tiếp cận lĩnh vực nông nghiệp đối với họ.

Hiện, Green Edu đang xây dựng chương trình Phát triển Cộng sự Chuỗi giá trị (Value Chain Associate Programme – VCAP), là chương trình phát triển và tạo môi trường cho tài năng trẻ phát huy thế mạnh và cống hiến cho hệ sinh thái Nông nghiệp. VCAP đang tìm kiếm những tài năng trẻ đến từ nhiều lĩnh vực cùng tham gia giải quyết vấn đề Nông nghiệp – Nông thôn – Nông dân.

Xin cám ơn ông!

Cộng sự Chuỗi giá trị sẽ làm gì?
– Trở thành các nhà tư vấn đào tạo kiêm điều phối giúp giải quyết các vấn đề trong lĩnh vực Nông nghiệp – Nông thôn – Nông dân theo định hướng chuỗi giá trị và thị trường.
– Làm việc cùng với địa phương, tìm hiểu những vấn đề nan giải của họ, thúc đẩy nguồn cảm hứng để giúp họ đưa ra quyết định thay đổi. Nền tảng chương trình này được xây dựng dựa trên tinh thần đồng kiến tạo, học tập đa phương.
– Đào tạo và tư vấn cho các nhóm nông nghiệp (nông dân, lãnh đạo HTX, các bạn trẻ khởi nghiệp).
– Thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển (ecosystem building).
– Tư vấn về các mô hình kinh doanh trong nông nghiệp (business model development) để kết nối họ tiếp cận với thị trường, nguồn nhân lực, công nghệ thông tin.
– Tham khảo thêm thông tin chi tiết của chương trình tại: https://greenjob.vn/vca/
CÔ NA, NGƯỜI TIÊN PHONG TRONG KHỞI NGHIỆP, SẢN XUẤT CHUỐI SẠCH TẠI PHÚ YÊN

CÔ NA, NGƯỜI TIÊN PHONG TRONG KHỞI NGHIỆP, SẢN XUẤT CHUỐI SẠCH TẠI PHÚ YÊN

Vừa giúp bà con trồng chuối có thu nhập ổn định, đảm bảo cung cấp các sản phẩm chuối sạch, hữu cơ, an toàn cho người tiêu dùng, vừa giải bài toán về giá cả bấp bênh cho bà con trồng chuối ở Phú Yên là mục tiêu của chị Phạm Vi Na, chủ cơ sở sản xuất chuối cô Na.

Cô dược sĩ dành niềm đam mê cho chuối

Xuất thân từ gia đình có truyền thống nghề y, với nền tảng kiến thức của một y sĩ, bước rẽ sang khởi nghiệp với chuối có vẻ là câu chuyện chứa đựng nhiều bất ngờ khi nhắc đến chị Phạm Vi Na, chủ cơ sở sản xuất chuối Cô Na, ở Tuy Hòa, Phú Yên.

Đã từng là y sĩ, nên chị hiểu được mối quan tâm của xã hội, cộng đồng liên quan đến vấn đề sức khỏe. Thế nên, bản thân cô luôn muốn tạo ra những dòng sản phẩm sạch, không hóa chất, an toàn cho người tiêu dùng. Nghĩ là làm, chị đã mạnh dạn và lén gia đình rời bỏ công việc, môi trường làm việc gắn bó nhiều năm trong bệnh viện chỉ để làm cái gì đó mới mẻ, khác biệt, thỏa đam mê và làm cuộc sống này thêm sắc màu. Hành trình đam mê với chuối cũng bắt đầu từ đây.

Lúc cao điểm, tại nhiều vùng trồng chuối của Phú Yên, bà con chỉ bỏ đi, hoặc bán theo nải với giá tầm 3000 – 4000 đồng mỗi ký. Khi các thương lái thường ép giá, đẩy bà con trồng chuối vào cảnh “ thừa hàng, dội chợ” thì chị Na mong muốn mình có thể thay đổi điều này. Sau một thời gian dài quan sát, tìm hiểu chị nhận ra, với người tiêu dùng thứ họ cần nhất chính là sản phẩm sạch, chất lượng tốt, an toàn cho sức khỏe. Còn với người nông dân, ai cũng mong muốn sản phẩm của mình luôn bán được giá cao, không lo về hiện trạng thừa hàng dội chợ, có thu nhập tốt hơn. Xa hơn nữa, thứ người nông dân cần nhất chính là sự bền chặt, ổn định, lợi nhuận ít cũng được, miễn là năm nào cũng phải có tăng trưởng và phát triển, đầu ra ổn định.

Không có kinh nghiệm làm nông, chưa từng kinh qua việc “phơi mặt” trên cánh đồng, cô y sĩ thành thị bắt đầu chuỗi ngày loay hoay đi thực tế đến các huyện, tự hỏi hỏi, tự tìm tòi để tìm hướng đi cho riêng mình trên con đường chinh phục thị trường bằng những sản phẩm chuối sấy thơm ngon, hợp vệ sinh, lạ miệng.

Trong hành trình đưa chuối cô Na đến gần hơn với người tiêu dùng, chị không ngại dành phần lớn thời gian đến từng siêu thị để xem xét trên bao bì, nhãn mác, lặn lội vô tận miền Nam đến các nơi có trồng chuối nhiều để hỏi thêm người địa phương, các chuyên gia nông nghiệp để học hỏi thêm kinh nghiệm. “ Không có con đường nào trải đầy hoa hồng”. Tuy nhiên, trên bước đường của mình, chị mai mắn được sự hỗ trợ từ các chuyên gia khởi nghiệp, ví dụ, vườn ươm Sông Hàn. Nhờ vậy, chị thêm tự tin hơn với quyết định lựa chọn của mình.

“ Dù là công việc gì, mỗi ngày trôi qua trong bệnh viện, hay trên đồng chuối, hoặc đắm mình cùng công nhân ở nhà xưởng, nếu chúng ta làm bằng cả trách nhiệm, đam mê, sự nhiệt tình thì sẽ tìm được niềm vui trong mỗi ngày trôi qua trong cuộc sống”, Na bộc bạch.

Hạnh phúc và nhiều ý nghĩa

Với nữ chủ nhân của nhãn hàng chuối cô Na, quãng thời gian dấn thân vào nông nghiệp sạch, làm ra mặt hàng chuối an toàn, thơm ngon cho thị trường mang đến cho chị nhiều trải nghiệm, nhiều hạnh phúc và bài học ý nghĩa trong cuộc sống.

Càng vui hơn, khi cô đã truyền cảm hứng, kinh nghiệm canh tác cho bà con trồng chuối. Tất cả các sản phẩm trái được thu mua đều phải được trồng theo hướng an toàn, được thu gom từ mảnh vườn, khu đất chẳng cần thuốc trừ sâu hay phân bón hóa học, đồng thời, giúp người tiêu dùng có nguồn thực phẩm sạch và môi trường sống thêm bền vững.

Bằng tất cả niềm đam mê, sức lực của mình, hiện chị đang bắt đầu giấc mơ mở rộng vùng trồng, thu hút thêm nhiều bà con nghèo vùng núi cao tham gia vào chuỗi trồng chuối để cung cấp nguyên liệu đầu vào. Bên cạnh đó, chị cũng đang trong tiến trình xin đất, làm các thủ tục pháp lý để chuyển sang khu nhà xưởng mới, nằm trong khu đất được quy hoạch làm khu công nghiệp thuộc địa bàn thành phố Tuy Hòa, thu hút thêm nhiều lao động nhàn rỗi của địa phương. “Cũng mai, đến thời điểm này, mọi thứ đều thuận lợi” cô hào hứng chia sẻ.

Các mặt hàng chuối sấy, an toàn của cô Na, đến nay đã trở thành lựa chọn của rất nhiều khách du lịch khi đến với Phú Yên, mang lại lợi nhuận khả quan bước đầu.

Sau hơn 2 năm khởi nghiệp, chuối cô Na ngày càng vươn xa và đã có chỗ đứng vững trên thị trường. Kể từ khi tung ra sản phẩm đầu tiên ra thị trường bằng hình thức kinh doanh online, chuối cô Na hiện đã xây dựng được mạng lưới tiêu thụ tại 43 đại lý phân phối khắp Việt Nam, với số lượng dao động 200-300 ký hàng mỗi ngày.

Tại xứ sở hoa vàng trên cỏ xanh này, thương hiệu chuối cô Na, và cách làm của người phụ nữ với nhiều nghị lực này đã phá rào cản tâm lý của những bà con một nắng hai sương, không muốn con cái theo nghiệp cha mẹ, hoặc buộc phải ly hương tìm đường sống. Với cô, những người con xứ biển này không cần phải ly hương bon chen nơi phố thị ồn ào để thành công.

Cuộc sống không dễ dàng, nếu có tình yêu, niềm tin vào công việc mình đang làm, chắc chắn quả ngọt sẽ tìm đến sau những ngày tháng nỗ lực không mỏi mệt.

Bài, Ảnh: Hồng Chi

Nông nghiệp thành thị đang trở thành xu hướng của tương lai

Nông nghiệp thành thị đang trở thành xu hướng của tương lai

“Thế giới đang sản xuất lương thực nhiều hơn bao giờ hết” là nhận định của Fred Kaufman trong cuốn sách “Bet the Farm: How Food Stopped Being Food”. Nạn đói — vấn nạn tưởng chừng như đã kết thúc khi chiến tranh đi qua và hòa bình được thiết lập — giờ đây đang dần trở lại với thế giới. Trong khi đó, ngành sản xuất lương thực vẫn luôn gia tăng sản lượng nông phẩm của họ, tuy nhiên vẫn có hàng triệu người trên thế giới phải đối diện với đói khát mỗi ngày. Lí do cho vấn nạn này là do lương thực được sản xuất để phục vụ một lượng nhu cầu ảo quá cao trong khi nhu cầu trên thực tế vẫn luôn tăng khiến lạm phát hình thành làm giá lương thực tăng cao.

Nạn đói xảy ra ở khắp nơi từ nông thôn tới ngoại ô. Nhưng một trong những nơi chịu ảnh hưởng của nạn đói nặng nề nhất lại là đô thị. Theo một báo cáo của của Bộ Nông nghiệp Mỹ, khi dân số của các đô thị ngày càng tăng một cách chóng mặt thì nhiều người dân đô thị đang phải đối mặt với việc cạn kiệt nguồn lương thực, hoặc họ đang phải sống ở những nơi khó có thể tiếp cận nguồn cung cấp lương thực như siêu thị, trung tâm thương mại, các cửa hàng thực phẩm với mức giá cả phải chăng.

Nhưng nhờ có các công nghệ tân tiến phát triển, cán cân lương thực đang dần trở lại trạng thái cân bằng khi công nghệ mới cho phép con người có thể trồng trọt tại các địa điểm mà trước đây được cho rằng không thể trồng trọt, với lượng sản xuất ngang bằng với các nông trại truyền thống.

Nông nghiệp ở một tầm cao mới

Các nông trại đô thị có thể làm theo khuôn mẫu đơn giản của một vườn rau nhỏ ngoài trời của cộng đồng hay khuôn mẫu phức tạp của một nhà kính với mô hình trang trại theo chiều dọc đứng, khi đó những người làm nông sẽ cần nghĩ tới việc mở rộng không gian theo ba chiều. Các công nghệ sử dụng trong trang trại nhà kính bao gồm hệ thống ánh sáng, đèn chiếu tia UV, hế thống phun tưới và cảm biến nhiệt độ không khí và đất. Tất cả các loại thiết bị này đều sử dụng một hệ điều khiển chung và được kết nối Internet để có thể kiểm soát ở mọi lúc mọi nơi. Như vậy, cây trồng sẽ được tưới nước và bón phân theo một lịch trình cụ thể và chính xác để giúp chúng được phát triển tươi tốt nhất.

Với những công nghệ phù hợp, trồng trọt có thể được bắt đầu ở bất cứ nơi nào chúng ta muốn. Đây cũng chính là xu hướng mới mà nông nghiệp trong đô thị đã cho chúng ta thấy — những mô hình nông trại trong nhà này vượt xa những mô hình vườn rau đơn giản của cộng đồng, nông trại trong nhà có thể sản xuất ra một lượng nông phẩm đủ lớn để cung cấp cho người tiêu dùng ở các khu vực lân cận. Tất cả những gì người làm nông cần chuẩn bị là một địa điểm có không gian đủ rộng và có cung cấp điện nước, không cần tới bất kì cơ sở vật chất đặc biệt nào. Họ có thể mua tất cả những vật dụng cần thiết để bắt đầu và kiểm soát những nông trại của họ online dễ dàng như mua một món đồ trên Amazon vậy.

Mô hình Nông trại trong nhà

Trang trại nhà kính không chỉ sử dụng cho cây trồng và cây ăn quả mà còn có thể sử dụng hiệu quả trong chăn nuôi. Các công nghệ tân tiến trong nông nghiệp có thể giúp người chăn nuôi kiểm soát động vật và sức khỏe của chúng và nó cũng tiện lợi như mô hình trang trại dành cho cây trồng vậy vì mọi thứ đều được kết nối và giám sát qua Internet.

Ngoài ra, mô hình Nông trại trong nhà thân thiện với môi trường vì có rất ít sự lãng phí xảy ra khi sử dụng mô hình này. Ví dụ, nếu trồng trọt và chăn nuôi cùng lúc thì đối với những cây trồng bị thừa hay cây không đạt chuẩn vềhình thức nên không thể tiêu thụ hoàn toàn có thể sử dụng số cây này để làm thức ăn trong chăn nuôi. Như vậy, không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn tránh được việc lãng phí không gian, giúp tăng năng suất sản xuất. Hơn nữa, đặt trang trại ở gần với các nguồn đầu ra và khách hàng sẽ giữ được độ tươi ngon của nông phẩm khi tới tay người dùng, giảm thời gian bảo quản trong lúc vận chuyển và tránh gây ô nhiễm cho bầu khí quyển (do phải sử dụng phương pháp bảo quản lạnh).

Điều gì có thể gây hại tới Nông trại trong nhà?

Khi mà người dân từ nhiều miền trên khắp thế giới chuyển tới thành phố đế sinh sống và làm việc ngày một trở nên đông đúc, các nhà hỗ trợ của thành phố sẽ phải tìm cách giúp họ tìm một nơi để ở. Điều này dẫn đến việc nếu càng nhiều người tới thành phố thì chính phủ sẽ phải lấy lại những khu đất thuộc diện đất trồng trọt để xây thêm các khu nhà hỗ trợ nơi ở cho người dân. Ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam, chính phủ đã phải mở rộng biên thành phố để hỗ trợ cho nhiều người hơn. Có thể nói tới lần xác nhập Hà Nội cũ và Hà Tây cũ với nhau để mở rộng địa bàn Hà Nội.

Mô hình Nông trại trong nhà có thể giới hạn lại sự mở rộng này. “Các mô hình trang trại trong nhà có thể được áp dụng tại những mảnh đất — mà trước đó được sử dụng cho mục đích nông nghiệp — để yêu cầu thuê lại mà không vi phạm tới pháp luật” — Theo chuyên gia Paul P.G. Gauthier.

Nhưng để tạo ra một không gian để thực hiện mô hình này không hề dễ dàng. Tìm một không gian đủ lớn nhưng với chi phí thấp có thể trở thành trở ngại lớn cho nông dân. Ngoài ra, những người nông dân truyền thống cần phải cập nhật các công nghệ mới, bao gồm hệ thống phun tưới và cảm biến nhiệt độ không khí và đất, thay vì trước đây cây trồng của họ hoàn toàn dựa vào điều kiện thiên nhiên.

Mô hình Nông trại trong nhà đã phá tan những nghi ngờ vô hình về việc trồng trọt tại những vùng đất khô cằn khó khăn nhất. Nó mang tới một hướng đi mới cho cộng đồng nông nghiệp và ngoài ra nó còn tạo cơ hội kinh doanh cho các công ty để phục vụ nhu cầu và xu thế mới này.

Tương lai của ngành Nông nghiệp

Khi mà việc trồng trọt với mô hình trong nhà kính vẫn đang còn mới mẻ với nhiều người và nhiều nơi trên thế giới, các nghiên cứu về loại mô hình nông trại này sẽ vẫn tiếp tục phát triển để tìm ra những lợi ích nó mang lại cho từng khu vực nói riêng và cho thế giới nói chung. Nhưng dựa vào các dữ liệu đã có về mô hình nông trại này, có thể thấy trong một tương lai gần các chính phủ sẽ nỗ lực hợp pháp hóa đưa mô hình này vào thực tiễn.

Trong tương lai không xa, chúng ta có thể thấy mô hình Nông trại trong nhà sẽ được áp dụng như một viễn cảnh cho nền Nông nghiệp trên toàn thế giới. Mô hình Nông trại trong nhà cũng có thể trở thành một giải pháp đầy tiềm năng cho nạn đói đang xảy ra ở một số khu vực trên thế giới trong những năm gần đây do những biển đổi của khí hậu và ảnh hưởng của chiến tranh, loạn lạc hay do lạm phát lương thực tăng cao. Chỉ với lí do này thôi có lẽ cũng đủ để chúng ta tiếp tục phát triển và mở rộng loại hình hoạt động canh tác tân tiến này.

Nguồn: Sylvia Nguyen – Innovatube Frontier Labs

[TUYỂN DỤNG] Green Edu mở tuyển dụng nhiều vị trí

[TUYỂN DỤNG] Green Edu mở tuyển dụng nhiều vị trí

Green Edu là một doanh nghiệp xã hội với sứ mệnh cải thiện hệ sinh thái khởi nghiệp và nguồn nhân lực trong ngành nông nghiệp định hướng theo chuỗi giá trị và thị trường.

Cùng chia sẻ giá trị “WE – Chúng tôi” với đội ngũ nhân viên và cộng sự xây dựng và hướng tới một mục tiêu chung: giải quyết các vấn đề của Nông nghiệp – Nông thôn – Nông dân góp phần nâng cao sức cạnh tranh và thu nhập, kiến tạo một nông thôn mới với cơ hội mới cho mọi người. Hiện tại, Green Edu đang tìm kiếm các ứng viên cho nhiều vị trí, cụ thể như sau:

Trợ lí: http://bit.ly/AssistantGE

Cộng sự Chuỗi giá trị: http://bit.ly/GEVCA

Nhân viên tuyển dụng: http://bit.ly/GERecruiter

Site Admin: http://bit.ly/GEAdmin

Well-being Manager: http://bit.ly/WBManager

Grant-researcher: http://bit.ly/GEReasearcher

Tình nguyện viên VCA tại Trà Vinh: http://bit.ly/TNVVCA

IT Senior: http://bit.ly/ITSenior

IT Entry: http://bit.ly/ITEntry

Multimedia Designer: http://bit.ly/GEDesigner

Các ứng viên cho các vị trí trên sẽ được làm việc tại văn phòng chính số R4-08 Khu phố Hưng Gia 1, quận 7, HCM. Riêng vị trí TNV VCA sẽ làm việc trực tiếp tại Trà Vinh.

CÁCH THỨC ỨNG TUYỂN
Để ứng tuyển, vui lòng gửi email với tiêu đề “[GREENEDU]_[Vị trí]_Họ và tên” đến people@greendu.vn với CV và Thư ứng tuyển.
DEADLINE: 31/07/2019
Chúng tôi luôn chào đón những ứng viên phù hợp với tầm nhìn và sứ mệnh của tổ chức.

Successful applicants will be invited to the next round on a rolling basis.
Due to the high number of applicants, we can only answer to successful candidates.
Thank you for your understanding.

Dế mèn du ký 1: Hành trình tìm về với cội nguồn của thế mạnh nước nhà, đấy là nông nghiệp

Dế mèn du ký 1: Hành trình tìm về với cội nguồn của thế mạnh nước nhà, đấy là nông nghiệp

Chúng mình rời Tây Ninh nắng cháy để về với núi rừng miền Bắc ngút ngàn. Khởi hành từ Sài Gòn đến Hải Phòng – vùng đất rực màu phượng đỏ để tham dự lễ khởi công nhà máy chế biến rau củ quả Haphofood. Trở về Hà Nội, 12 chú dế mèn lại tiếp tục xách balo lên và rong ruổi trên những cung đường đi qua các tỉnh thành: Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang,Phú Thọ, Bắc Ninh.

Đến mỗi nơi, hít hà không khí núi rừng phía Bắc và lắng nghe những câu chuyện của người nông dân, của những cô bác thương lái, thấy tim mình dài rộng ra biết bao nhiêu và đầy ự những trải nghiệm, những rung động với con người, với thiên nhiên và với đất nước mình.

Đi để thấy thêm nhiều điều rộng mở vượt ra ngoài những con chữ và nghiên cứu trong sách vở. Thấy Tự nhiên ưu ái những vùng đất mình đi qua quá, để mà từ đấy, cây xanh bạt ngàn, trái cây ngọt lành, cây thuốc phủ xanh những đồi trọc. Thấy người nông dân bền bỉ, gắn bó với đất với vườn và không ngừng vươn lên với ý chí làm giàu cho mình và cho cả cộng đồng xung quanh. Đi để gom góp những câu chuyện về cách làm nông, cách vận hành một chuỗi giá trị trong nông nghiệp bền vững.

BÀI TOÁN DOANH NGHIỆP – NGƯỜI DÂN, AI BƯỚC TRƯỚC?

Những ngày đầu tiên, chúng tôi viếng thăm vùng trồng dược liệu tại khu vực tỉnh Thái Nguyên sau khi vượt chặng đường dài, rời xa thành thị. Tại đây, đoàn lại tiếp tục được gặp gỡ với một gương mặt trẻ hiện đang tạo sinh kế cho nhiều hộ dân tại khu vực bằng việc thúc đẩy trồng dược liệu vốn là nguyên liệu sẵn có ở vùng đất này.

Chỉ vài tiếng đồng hồ ngắn ngủi nhưng anh An* cởi mở chia sẻ nhiều khó khăn mà anh và doanh nghiệp phải đối mặt và hướng giải quyết thiết thực mà doanh nghiệp của anh đang áp dụng rất hữu hiệu cho cả doanh nghiệp lẫn người nông dân.

Một trong những chia sẻ đắt giá nhất về câu hỏi “Mở doanh nghiệp thu mua trước, hay đợi người dân tạo vùng trồng nguyên liệu trước?” của anh An đó là: “Doanh nghiệp phải bước trước, tạo vùng trồng mẫu cho người dân thấy được minh chứng hữu hình của giá trị cây trồng, ta không nói suông. Sau đó bắt đầu cho dân mượn giống, hướng dẫn kĩ thuật, đảm bảo đầu ra cho dân”.

Với quy mô nhỏ, hiện anh đang tạo sinh kế cho hơn 10 hộ dân trong địa bàn sinh sống của mình. Đoàn Cám ơn anh An đã đón tiếp nhóm thật nồng hậu, cởi mở.

GẶP GỠ MÔ HÌNH DOANH NGHIỆP LIÊN KẾT SẢN XUẤT VỚI NÔNG DÂN: NỒNG TÌNH BẮC KẠN

Đối với người nông dân, để làm ra sản phẩm nông sản đã vất vả nhưng đến khâu tiêu thụ cũng lại “long đong”. Việc tạo ra mối liên kết trong chuỗi giá trị sản xuất hàng hóa giữa doanh nghiệp và người nông dân là cần thiết, điều này góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa bền vững.

Vào ngày thứ 2 của hành trình, nhóm chúng tôi đã có cơ hội gặp gỡ bác Bàn Văn Minh (Giám đốc DNTN xuất khẩu và chế biến nông sản Minh Bê) tại thôn Thác Giềng, Xuất Hóa, Bắc Kạn.

Hai vợ chồng bác Minh Bê đã có hơn 20 năm gắn bó với cây gừng. Nhận thấy được tiềm năng kinh tế của cây gừng, hai bác tạo vùng trồng, kết nối với thương lái, mở rộng diện tích, vận động hàng xóm cùng trồng, đứng ra cung ứng giống cho bà con, với hình thức cho vay gừng giống đến khi thu hoạch trả. Đến nay, doanh nghiệp Minh Bê mỗi năm tiêu thụ cho người dân hàng nghìn tấn gừng, tạo sinh kế ổn định cho 650 hộ dân (năm 2015).

Những mô hình liên kết sản xuất như gia đình bác Minh Bê là câu trả lời cho bài toán đầu ra nông sản cho nông dân.

Hành trình của chúng mình bắt đầu từ bước đi đầu tiên bước ra khỏi vùng an toàn của mỗi người, và kết thúc bằng một túi đầy những câu chuyện cùng tiếng cười và hiểu hơn về cộng đồng mình.

Mọi khó khăn của chuyến đi được cất gói ghém lại, chúng mình sẽ chỉ còn nhớ về màu xanh của núi rừng, vườn thuốc, vườn gừng, nhớ về những bữa cơm hiếu khách và chỗ ngủ ấm của các bác cho nhờ, nhớ về những lúc thương nhau thay nhau đổi xế, nhớ về những cung đường lạc lối trong rừng và chiếc xe máy cày chở 4 chị em xuống dốc giòn tan tiếng cười.

Những chú dế mèn sẽ tiếp tục đi, trải nghiệm và học thêm nhiều điều mới hơn nữa trên hành trình tìm về với cội nguồn của thế mạnh nước nhà, đấy là nông nghiệp.”

Xem thêm video về hành trình tại:


Bài viết: Linh Tâm – Oanh Dương
Video: Công Tuyển

Nhật ký VCA – Bài toán dưa lưới

Nhật ký VCA – Bài toán dưa lưới

Với tinh thần cùng học, cùng làm, cùng chia sẻ, những chú dế mèn lại tiếp tục hành trình tích lũy kiến thức và trải nghiệm để thực hiện sứ mệnh Tư vấn – Kết nối – Đồng hành. Hôm nay là hành trình tìm lời giải cho bài toán Dưa lưới: làm sao để chuyển giao kỹ thuật trồng một loại cây như dưa lưới sao cho hiệu quả và năng suất cao?

Chúng tôi kết nối với Công ty TNHH Nông sinh Khang Nguyên chuyên ứng dụng công nghệ sinh học – công nghệ cao, đưa ra thị trường các giống dưa lưới chất lượng cao, và được lắng nghe những chia sẻ từ anh Quyền – kĩ sư chuyên môn và ba của anh là Bác Tiến sỹ Phạm Hữu Nhượng – nguyên Phó Trưởng ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao Tp. HCM.

Để tìm hiểu về bài toán này, chúng tôi còn đến với khu vườn trồng dưa lưới ở Tây Ninh của anh Khánh – Thạc sỹ ngành Công nghệ sinh học tại Úc, nơi mà công ty Khang Nguyên bao tiêu dưa lưới giống AB, King & Queen trong suốt 3 năm qua.

Anh Khánh trở về quê hương để phát triển mô hình trồng dưa lưới tại xã Trường Đông, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Xây dựng và vận hành 4 nhà màng với diện tích 6.000 m2, anh Khánh và gia đình đã đạt được những con số ấn tượng về năng suất thu được trên mỗi vụ là 4 tấn/1.000 m2.

Được đi thăm vườn và nghe quy trình làm giá thể, ươm giống, trồng cây, tỉa lá và những lưu ý về khoảng cách trồng, cách sử dụng hỗn hợp phân bón hữu cơ, cách tưới/ngắt nước trước khi thu hoạch,… mới hiểu để có được một trái dưa lưới trên kệ ở siêu thị hay cửa hàng thực phẩm sạch thì phải trải qua những giai đoạn vất vả thế nào và việc áp dụng công nghệ cao trong nông nghiệp giúp quá trình trồng và thu hoạch đạt hiệu quả hơn đến đâu.

Được nghe những chia sẻ chân thành từ anh Khánh về lý do vì sao lại trở về Tây Ninh, chúng tôi lắng lại khi thấy mặt anh bừng sáng: “Vì anh không muốn con anh ở thành phố”. Và thế là anh và vợ trở về quê, gắn bó với mô hình dưa lưới, ngày ngày quan sát, nâng niu từng bước lớn lên của cái lá, trái dưa. Đặt tên con bằng những cái tên như Dưa, như Na, chúng tôi hiểu rằng anh yêu cây cỏ và muốn con mình được sống hòa hợp trong thiên nhiên thế nào. Và chỉ khi trân trọng và dành đủ tâm huyết thì dưa lưới trong 4 nhà màng của anh mới phát triển xanh tốt đến thế.

Xin kết lại chuyến đi bằng một lời chia sẻ của bác Nhượng để lại trong mỗi bạn VCA những trăn trở về chuyện làm nông: “Nếu các con có làm, thì chắc chắn phải có 1 bạn ở dưới ấy gắn bó với vùng trồng, ngày ngày quan sát để biết sự trưởng thành của cây, mỗi sáng thức dậy con sẽ thấy nó cao thêm dăm ba phân, mà lúc đó không buộc dây kịp là cây sẽ đổ xuống là thôi rồi. Phải thực sự nhiệt huyết với nó, các con mới thành công được.”

Lời giải đáp cho bài toán vẫn còn dang dở, có bạn nào muốn đến Green Edu cùng tụi mình tiếp tục giải toán không nhỉ?”

Bác Tiến sỹ Phạm Hữu Nhượng (trái) và anh Khánh (giữa) cùng các bạn VCA (phải) trao đổi về kỹ thuật trồng dưa

Trên đây là những chia sẻ của Oanh – Thực tập sinh VCA tại Green Edu qua chuyến Field trip đến vườn trồng dưa lưới tại xã Trường Đông, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh vào cuối tháng 06 vừa qua. Đến với Green Edu, VCA dần làm quen với những chuyến đi về khắp mọi miền đất nước, gặp gỡ những “local champion” đang từng ngày làm thay đổi diện mạo của nông nghiệp nước nhà, hiểu thêm về bức tranh của địa phương và cùng nhau giải bài toán nông nghiệp nước nhà.

Bài viết: Oanh Dương